Nhiều điều đã được nói ở đây, và chúng đáng xem xét tới. Nếu đúng là sự tồn tại là một – rằng tôi không tách rời khỏi sự tồn tại, rằng tôi không là hòn đảo – thế thì các biên giới của tôi chỉ là thực dụng, và tôi không kết thúc tại những giới hạn này. Thế thì, không có “người khác”; thế thì, bất kì cái gì xảy ra cho người khác cũng là đang xảy ra cho tôi – có lẽ ở một khoảng cách nào đó, nhưng nó cũng đang xảy ra cho tôi.
Khi Mahavira nói thậm chí không giết một con kiến, đây là điều ông ấy ngụ ý. Toàn thể triết học về bất bạo hành được dựa trên việc cảm thấy này về tính bất nhị. Không giết một con kiến không ngụ ý rằng bạn phải thương xót kiến, hay thậm chí rằng nó có thể được thương hại; điều đó đơn giản ngụ ý rằng bất kì khi nào bạn làm tổn thương ai đó, hay gây ra đau khổ, hay giết, bạn là vô nhận biết rằng bạn đang có tính tự tử.
Mọi kiểu bạo hành là có tính tự tử. Nếu tôi là một với toàn thể cuộc sống, thế thì bất kì khi nào tôi gây ra đau, tôi làm tổn thương bản thân tôi. Cho nên nhớ điều này trong tâm trí: bất kì khi nào bạn gây đau cho người khác, dù bạn biết điều đó hay không, đau đó cũng đạt tới bạn, vì người khác là không khác bạn. Có thể có khoảng cách nào đó giữa các bạn; người khác có thể ở xa xôi và cuộc hành trình có thể mất thời gian lâu – nhưng chúng ta tất cả đều được gắn với nhau. Đó là lí do tại sao nếu bạn gây ra khổ cho bất kì người nào, bạn cũng sẽ phải bị khổ. Không gây ra khổ cho bản thân bạn, bạn sẽ không bao giờ có khả năng gây ra khổ cho người khác. Điều đó là không thể được.
Cứ thử làm cho ai đó bất hạnh và bạn cũng sẽ trở nên bất hạnh. Và điều ngược lại cũng đúng. Cứ làm cho ai đó hạnh phúc và quan sát: bạn sẽ thấy rằng hạnh phúc bắt đầu vang vọng trong tim bạn theo nhiều cách. Nếu bạn loại bỏ cho dù một gai nhỏ khỏi đường của ai đó, nhiều gai sẽ được loại bỏ khỏi đường của bạn. Nếu bạn đặt chỉ một đoá hoa nhỏ lên đường của ai đó, bạn sẽ thấy thảm hoa được trải trên đường của bạn – vì bất kì cái gì bạn làm liên tục vang vọng vô tận khắp xung quanh bạn. Và nó có thể vang vọng vô tận vì bạn được kết nối với cái toàn thể, bạn là một với nó.
Nếu ngay cả một ý nghĩ nhỏ nảy sinh trong bạn, toàn thể sự tồn tại nghe nó. Ngay cả một xúc động nhỏ trong lòng bạn cũng có thể được nghe vang dội khắp toàn sự tồn tại. Và không phải dường như điều này sẽ chỉ xảy ra hôm nay; nó sẽ được nghe thấy trong vĩnh hằng. Hình hài của bạn sẽ mất đi, thân thể của bạn sẽ hư hỏng, tên của bạn sẽ biến mất – sẽ khó mà chắc được rằng bạn thậm chí đã bao giờ tồn tại – nhưng bất kì cái gì bạn ham muốn, bất kì cái gì bạn làm, bất kì ý nghĩ nào, bất kì xúc động nào bạn có, tất cả sẽ giữ việc vang vọng qua toàn thể sự tồn tại. Bạn có thể không còn ở đây nhưng bạn sẽ xuất hiện ở đâu đó khác. Bạn có thể mất đi với thế giới này, nhưng hạt mầm của bạn sẽ mọc lại ra ở chỗ khác nào đó.
Điều chúng ta làm và điều chúng ta hiện hữu không bao giờ bị mất, vì chúng ta là một phần của cái toàn thể bao la, vô hạn. Con sóng tan biến nhưng đại dương vẫn còn nguyên si; và nước từ sóng đó cũng vẫn còn trong đại dương.
Cần hiểu điều này từ nhiều góc độ, vì nó sẽ có tác động sâu rộng lên cuộc sống của bạn, hành vi của bạn và tương lai của bạn. Nếu điều này có thể được bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ trở thành một người khác toàn bộ. Bạn đã làm ra một kiểu sống cho bản thân bạn dựa trên việc hiểu rằng bạn là thực thể tách rời – và đó là lí do tại sao người lo âu, phiền muộn và bất hạnh. Trong thực tại bạn không là người tách rời; mọi nỗ lực của bạn để tách rời bản thân bạn đều thất bại. Và đến cuối cùng bạn khám phá ra rằng bạn đã không tách rời bản thân bạn.
Chết là gì? Chết không là gì ngoài việc tan vỡ tan niềm tin giả của bạn rằng bạn là tách rời. Chết đem bạn trở lại vào trong bất nhị. Nếu bạn có khả năng đi vào trong bất nhị theo cách riêng của bạn, thế thì chết sẽ không xảy ra cho bạn. Nhưng như bạn vậy, chết là tuyệt đối cần thiết cho bạn vì theo cách riêng của bạn thì bạn dường như không có ham muốn quay lại kinh nghiệm về bất nhị.
Bạn đã ở trong trạng thái bất nhị trước khi sinh của bạn, và sau khi chết bạn sẽ trở về cùng trạng thái đó. Chỉ trong một khoảng thời gian, ở giữa, có con sóng này với mọi âm thanh và giận dữ của nó, việc dâng lên tạm thời của nó và điệu vũ của nó trong ánh mặt trời. Và như vậy với thời gian con sóng này có được ý tưởng rằng “Mình cũng tồn tại.” Từng con sóng phải cảm thấy rằng nó là tách rời khỏi đại dương, nó phải vậy. Và nó cũng phải cảm thấy rằng mọi con sóng dâng lên quanh nó là tách rời khỏi nó. Nó phải cảm thấy giống thế này – và có logic đằng sau điều đó. Nếu sóng có logic của nó, nếu nó có thông minh riêng của nó, thế thì nó sẽ tự hỏi, “Làm sao mình có thể là một với các sóng khác?” Nó có thể nghĩ, “Một số sóng là nhỏ thế, một số sóng là lớn thế. Tất cả chúng ta là khác biệt thế – làm sao có thể có chuyện tất cả chúng ta là một?” Nó cũng sẽ tự hỏi, “Một số sóng đổ xuống, trong khi mình chỉ mới bắt đầu dâng lên, cho nên làm sao mình có thể là một với sóng đang đổ xuống? Nếu như mình là một với sóng đang đổ xuống, mình chắc sẽ là đổ xuống nữa. Hay nếu sóng đang đổ xuống thực sự là một với mình, nó chắc cũng sẽ dâng lên, như mình dâng lên.”
Bạn nhìn quanh và bạn thấy rằng ai đó đang chết và bạn là thanh niên; ai đó đã trở nên già và ai đó khác là đứa trẻ – làm sao tất cả chúng ta có thể là một được? Nếu như chúng ta tất cả là một, thế thì khi bạn chết, họ tất cả phải chết cùng bạn chứ.
Nhưng chúng ta biết rằng ngay cả con sóng này đang dâng lên và con sóng khác đang đổ xuống, mọi sóng là một, chúng tất cả được nối ở trung tâm. Và sóng đổ xuống đang đi trở lại vào trong cùng nước mà sóng kia đang dâng lên từ đó. Tại chiều sâu không có khác biệt giữa hai sóng này – mọi điều này chỉ là trò chơi của đại dương. Chỉ chút ít thời gian sóng đã lấy hình thể; thế rồi hình thể bị mất đi và chỉ cái vô hình còn lại.
Chúng ta nữa cũng không là gì nhiều hơn các con sóng. Trong thế giới này mọi thứ đều là sóng. Cây là sóng, chim là sóng, đá là sóng và người cũng vậy. Nếu tất cả chúng ta đều là sóng trong cùng đại dương, thế thì điều này dẫn chúng ta tới một kết luận rất sâu rộng. Và kết luận đó ở trong lời kinh này:
Không tưởng tượng ông có thể đứng sang bên
tách khỏi người xấu hay người ngu.
Đừng nghĩ rằng người xấu là xấu và bạn là tốt, vì người xấu cũng được kết nối với bạn. Và sự thực là ở chỗ nếu người xấu mà bị đuổi khỏi thế giới này, chính cùng ngày đó người tốt chắc cũng sẽ biến mất. Nếu như không có quỉ trong thế giới này, chẳng có gì như tính Thượng đế, nếu như không có kẻ trộm, không kẻ giết người, không có bất lương, thánh nhân chắc cũng tan biến cùng với họ. Làm sao thánh nhân có thể sống mà không có quỉ? Bạn đã bao giờ nghĩ về điều này chưa? Tính Thượng đế sống ngay bên cạnh với tính phi Thượng đế; chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Người là tốt, người là người tử tế, người tôn giáo, người ngoan đạo, chỉ tồn tại bởi vì tính phi tôn giáo; người đó không thể tồn tại mà không có tính phi tôn giáo.
Không có cách nào cho Rama tồn tại mà không có Ravana; cũng không có cách nào cho Ravana tồn tại mà không có Rama. Cho nên những người chỉ nghĩ một cách hời hợt rằng có thù địch lớn giữa Rama và Ravana. Những người có thể nhìn sâu hơn đều biết rằng khó mà tìm ra tình bạn nào sâu sắc hơn tình bạn tồn tại giữa hai người này – vì làm sao chúng ta có thể gọi điều chúng ta cần để tồn tại, là kẻ thù? Cái mà chúng ta không thể tồn tại nếu không có nó là bạn thực của chúng ta. Làm sao bạn có thể gọi ai đó làm cho chính sự tồn tại của bạn thành có thể, người là một phần của chính nền tảng của bạn, là kẻ thù? Và nếu đây là hoàn cảnh, thế thì bạn sẽ phải thay đổi hoàn toàn mọi định nghĩa của bạn về kẻ thù: kẻ thù thậm chí là người gần gũi hơn người bạn.
Rama có thể tồn tại mà không có Ravana không? Bạn đã bao giờ nghĩ về điều này chưa? Nếu bạn cắt Ravana ra khỏi câu chuyện của Rama, câu chuyện này ngay lập tức trở thành vô nghĩa. Động lực của câu chuyện này chỉ tồn tại vì Ravana. Toàn thể nhân phẩm của Rama tồn tại vì sự hiện diện của Ravana. Thiện của Rama chỉ trở thành rõ ràng trong tương phản với ác của Ravana. Không có Ravana, Rama chắc chỉ là phấn trắng không có bảng đen: nếu bảng đen bị bỏ đi phấn trắng cũng biến mất. Những chữ trắng đó nổi ra không chỉ vì chúng là trắng, nhưng bởi vì chúng được viết trên bảng đen. Bảng đen có một tay trong tính trắng của chúng. Chúng nổi bật ra rõ ràng thế chỉ bởi vì bảng đen. Nếu bảng đen mà bị bỏ đi, chữ trắng chắc cũng tan biến.
Chính sự kiện đáng tò mò của cuộc sống là nếu ham muốn của cái gọi là các thánh nhân mà được đáp ứng, và toàn thế giới đã trở nên thánh thiện, thế thì bản thân họ chắc sẽ biến mất. Không nhận ra điều đó, họ đang bận rộn cố xoá đi bản thân họ, nhưng tới chừng mực nào đó họ đã không thành công. Và họ sẽ không bao giờ thành công, vì họ không thể tồn tại mà không có tính phi thánh nhân. Cũng hệt như không thể nào ngày có thể tồn tại mà không có đêm, hệt như tối không thể tồn tại mà không có sáng, và sinh là không thể được nếu không có chết, cho nên mọi cái đối lập là được kết nối.
Người thông minh không nên nghĩ mình là tách rời khỏi người đần. Người đẹp không nên nghĩ rằng mình là tách rời khỏi người xấu, người khoẻ không nên nghĩ rằng mình là tách rời khỏi người ốm. Tất cả chúng ta được kết nối. Sâu bên dưới tất cả chúng ta được kết nối.
Nếu tính kết nối này được hiểu, thế thì bản ngã của người trí thức sẽ rơi rụng đi – vì ngay chỗ đầu tiên bản ngã của người trí thức là gì? Bản ngã của người đó nằm trong ý nghĩ rằng người đó không đần. Nhưng không có người đần, trí tuệ của người đó không có nghĩa.
Trí tuệ chỉ tồn tại trong quan hệ với đần độn. Điều này cho bản ngã loại sức mạnh nào? Có bất kì cái gì trên thế giới này bất lực hơn bản ngã không? Bản ngã của người trí thức chỉ là điều này: rằng người đó không đần. Nhưng trí tuệ của người đó phụ thuộc vào sự tồn tại của người đần.
Người lãnh đạo nghĩ rằng anh ta không phải là người đi theo – nhưng có thể có người lãnh đạo mà không có người đi theo không? Người đó chỉ là người lãnh đạo vì có những người đi theo. Nếu một người vĩ đại nghĩ người đó là vĩ đại, người đó không thực sự là vĩ đại. Người đó đơn giản quên mất rằng chính chỉ trong quan hệ với người thường mà người đó dường như là vĩ đại. Người vĩ đại thực thấy vấn đề này: rằng người đó dường như vĩ đại chỉ trong quan hệ với người thường. Thế thì ngay cả tính vĩ đại cũng trở thành bình thường, vì làm sao tính vĩ đại, điều cần tính bình thường làm chỗ dựa, có thể được gọi là tính vĩ đại? Và điều này áp dụng cho cả hai phía.
Nếu người trí thức chỉ có thể thấy rằng người ngốc chỉ là mặt bên kia của cùng đồng tiền, thái độ xúc phạm của người đó, sự coi thường của người đó với người ngốc sẽ biến mất và cảm giác về tình huynh đệ sẽ được sinh ra. Nếu thánh nhân chỉ có thể thấy rằng tội nhân chính là mặt kia của cùng đồng tiền, kết án của người đó với họ sẽ đi tới kết thúc; tình bạn và tình yêu sâu sắc sẽ nảy sinh trong người đó ngay cả với tội nhân. Và chừng nào từ bi như vậy chưa được sinh ra trong thánh nhân, biết rõ rằng người đó không có ý tưởng nào về bất nhị.
Khoảnh khắc bạn đã trải nghiệm bất nhị, cái đối lập cũng trở thành một phần của bạn. Thế thì, người tôn giáo biết tội nhân là mặt kia của mình, người tôn giáo biết rằng chừng nào tội còn xảy ra trên trái đất này, người đó là một phần của nó. Điều này là hơi phức tạp, cho nên nó phải được hiểu.
Chừng nào còn có tội trên thế gian, tôi là người tham gia trong nó – dù tôi phạm tội hay không. Nếu tôi phạm tội, thế thì tất nhiên tôi là người tham gia, nhưng cho dù tôi không phạm tội, tôi vẫn là người tham gia vì tôi là một phần của ý thức thế giới này, và nếu ý thức này phạm tội, tôi là người tham gia.
Phật đã nói ở đâu đó rằng chừng nào ngay cả một người vẫn còn bị trói buộc vào chuỗi dốt nát, làm sao bất kì ai có thể biết tới giải thoát? Nếu ngay cả một con sóng của đại dương còn bị ô nhiễm, làm sao con sóng khác có thể trở nên tinh khiết? Điều đó chỉ có thể xảy ra nếu các con sóng là tách rời – thế thì một con sóng có thể tinh khiết và một con sóng vẫn còn không tinh khiết. Nhưng nếu mọi con sóng là một phần của một đại dương, thế thì chúng ta phải từ bỏ tính nhị nguyên của tinh khiết và không tinh khiết, chúng ta phải từ bỏ việc làm khác biệt giữa linh thiêng và tội lỗi; chúng ta phải nhận ra rằng chúng đi tay trong tay. Ai đó hiểu điều này, người nhận thức rằng chúng đi tay trong tay, siêu việt lên trên cả hai. Và ai đó đi ra ngoài cả hai, là người tôn giáo.
Chúng ta hãy nhìn vào nó sâu hơn chút ít. Người thánh thiện là đối lập của người không thánh thiện, và người tội lỗi là người đối lập của người thánh thiện. Không có đối lập với người tôn giáo – đó là lí do tại sao chúng ta làm ra phân biệt giữa phật tính và am tường. Người am tường và người dốt là đối lập. Nhưng ai đó hiểu và đối xử với cả người am tường và người dốt như nhau, và thấy rằng hiểu biết và dốt nát được kết nối, đã đạt tới phật tính. Chúng ta nói rằng người đó đã đạt tới trí huệ.
Hiểu biết thực không phải là cái đối lập của dốt; thực tại nó là siêu việt trên cả hiểu biết và dốt.
Điều này có hơi chút khó hiểu: được giảm bớt dốt và trở thành khôn – chừng này chúng ta có thể hiểu được. Không phạm tội và trở thành linh thiêng – điều này chúng ta có thể hiểu được. Bỏ tính cách xấu và trở thành người tốt – điều này nữa chúng ta có thể hiểu được. Nhưng nhận biết này được dựa trên nhị nguyên, và nó không có quan hệ với tính tôn giáo thực. Kiểu hiểu biết này là ấu trĩ! Loại hiểu biết này là đầy dốt. Trên bề mặt nó dường như là hiểu biết, nhưng bên dưới nó chỉ là dốt – vì mọi cái dường như là đối lập lại được kết nối bên dưới.
Thế thì điều này ngụ ý… Gurdjieff thường nói rằng bạn càng nhấn mạnh vào việc có tính cách tốt, bạn càng khuyến khích việc cho tính cách xấu phát triển. Điều này dường như hơi chút khó hiểu, nhưng Gurdjieff là đúng trong điều ông ấy nói, vì tỉ lệ của cả hai bao giờ cũng sẽ vẫn còn là hằng số. Đó là lí do tại sao càng có nhiều đạo đức trên thế giới, càng có nhiều vô đạo đức.
Nói chung mọi người tin rằng phải có một thời đại mà chỉ đạo đức là thịnh hành. Điều này không phải như vậy. Không bao giờ có thể có thời đại như vậy; không bao giờ có thể có một thời mà đạo đức và chỉ đạo đức thịnh hành. Điều đó chỉ có thể ngụ ý một điều – rằng đã có ít vô đạo đức tới mức sự hiện diện của vô đạo đức đã không bao giờ được cảm thấy. Ngày nay, cả hai trong chúng đều đã tăng lên rất lớn. Ngày nay, đạo đức đang ở tại đỉnh của nó và vô đạo đức cũng ở tại đỉnh của nó. Đó là lí do tại sao cả hai trong chúng là thấy được rõ ràng. Ngày nay, khác biệt này có thể được thấy rất rõ ràng vì cả hai đã đạt tới cực đoan. Cả hai vươn lên và sụp xuống đồng thời.
Nhìn điều đó theo cách này: một núi nhỏ nhất định bị bao quanh bởi thung lũng nhỏ. Nếu núi cao, chạm trời, thung lũng bao quanh nó sẽ phải sâu hơn. Bạn chỉ ngu nếu bạn nghĩ rằng núi có thể cao mà không có thung lũng nào, vì điều này không bao giờ có thể xảy ra.
Nietzsche đã nói rằng cây muốn chạm trời phải lan toả rễ của nó sâu trong đất. Cây càng vươn lên cao hơn, rễ của nó càng phải ăn sâu hơn dưới đất. Nếu bạn nghĩ rằng cây có thể chạm trời nhưng không có rễ sâu, bạn đang lừa bản thân bạn. Không thực vật theo mùa nào có thể chạm trời vì rễ của nó không có năng lực đi xuống đủ sâu. Nó càng vươn lên cao, nó phải đi xuống càng sâu. Đây là cân bằng của sự sống.
Cho nên nếu bạn muốn xã hội rất đạo đức, bạn cũng sẽ phải được chuẩn bị cho khối lượng tương đương về vô đạo đức. Nếu bạn muốn xã hội trở nên rất thông minh, những người không thông minh cũng sẽ phải được sinh ra theo cùng tỉ lệ; nếu bạn muốn những người rất thông minh, bạn sẽ phải chấp nhận những người ngốc nữa. Không có cách nào né tránh điều đó. Đây là luật của cuộc sống và không cái gì có thể được làm về nó. Nếu bạn muốn người rất đẹp, bạn cũng sẽ phải chịu đựng những người rất xấu, vì đẹp có thể tồn tại chỉ trong tương phản với xấu. Người khôn có thể tồn tại chỉ trong tương phản với người dốt – không có cách khác. Nếu bạn muốn không có tội lỗi trên thế giới chút nào, bạn cũng phải được chuẩn bị để buông bỏ mọi đức hạnh nữa. Thế thì tội lỗi không thể bị phạm phải. Nếu bạn không muốn xấu trên thế giới bạn phải bỏ mọi tiêu chí về đẹp, bạn phải quên về khái niệm đẹp. Thế thì không ai sẽ là xấu vì không có tiêu chí về đẹp làm sao bạn sẽ đánh giá cái gì là xấu? Nếu bạn muốn không có người ngu trên thế giới, bạn sẽ phải loại bỏ mọi người thông minh. Nếu bạn không muốn người tội lỗi, bạn sẽ phải nói lời tạm biệt với người thánh thiện. Họ tới cùng nhau, mọi cái đối lập đi cùng nhau.
Từ “Tiếng nói của im lặng”, Ch.3 Cảm giác tách rời
