Khi người đã trở nên được văn minh hơn, được giáo dục và có văn hoá ngày càng nhiều hơn, người cũng trở nên lo âu hơn, trăn trở và bồn chồn hơn. Tại sao có điều này? Khi trí tuệ của người tăng tưởng, tại sao bất hạnh của người cũng tăng trưởng? Lí do cho việc tăng trưởng này là vì toàn thể sự phát triển của trí tuệ được dựa trên ý tưởng và cảm giác về nhị nguyên. Trí tuệ mổ xẻ, trí tuệ phân tách; nó phân tích, nó vẽ ra biên giới, nó xác định.
Tấm lòng thống nhất. Nó đập tan các biên giới, nó phá huỷ các định nghĩa và huyền được sinh ra. Tấm lòng càng có đó trong cuộc sống, càng ít lo âu hơn; càng có nhiều trí tuệ, càng có nhiều lo âu hơn.
Trí tuệ phân chia. Nó giống như lăng kính: khi tia sáng mặt trời đi qua nó, nó phá vỡ chúng thành bẩy phần, và mầu sắc trở thành thấy được. Cùng tia sáng mà đã là trắng trước khi đi qua lăng kính bây giờ chia thành bẩy phần – điều đó trở thành bẩy mầu. Đôi khi trong mùa mưa, cầu vồng hình thành trong bầu trời vì các giọt nước mưa vận hành như lăng kính, chúng chia tia sáng mặt trời thành bẩy mầu. Trí tuệ làm việc giống như lăng kính. Bất kì khi nào bạn nhìn qua trí tuệ, mọi thứ bị phá ra và bị tách ra thành từng phần.
Đây là nguy hiểm của trí tuệ, nhưng đó cũng là sự vô dụng của nó. Nếu bạn phải định nghĩa cái gì đó, nếu bạn muốn biết cái gì đó một cách đúng đắn, nó là gì, thế thì bạn sẽ phải mổ xẻ nó, bằng không thì không cái gì sẽ được biết, vì khi có liên quan tới sự tồn tại, mọi thứ là một toàn thể. Cho nên thực ra, sẽ chỉ có thể biết một thứ khi cái toàn thể được biết – điều là việc không thể được. Ngay cả khi có liên quan tới một hòn sỏi nhỏ, toàn thể sự tồn tại được nối lại; toàn thể sự tồn tại đã tham gia vào trong việc sáng tạo ra biến cố hòn sỏi nhỏ đó. Mặt trời đã đóng góp, bầu trời đã cung cấp không gian, đất đã cho nó chất liệu – cùng nhau chúng đã làm ra mẩu đá đó. Cái vô hạn đã trao cuộc sống cho nó theo vô hạn cách. Cho nên chừng nào chúng ta chưa hiểu cái toàn thể, chúng ta sẽ không có khả năng hiểu mẩu đá nhỏ đó.
Nhưng điều này là cực kì khó. Điều này ngụ ý chúng ta sẽ phải đợi cho tới khi mọi thứ được biết. Và làm sao có thể biết về cái toàn thể? – nó bao la thế. Để biết cho dù một thứ nhỏ trong thế giới này, nhiều thứ khác cần được biết trước hết. Cho nên điều này ngụ ý rằng dốt trở thành vĩnh hằng… rằng chúng ta sẽ không bao giờ đi tới biết.
Trí tuệ giúp chúng ta biết. Nó có thể làm được như vậy vì nó có thể phá vỡ mọi thứ ra và phân chia chúng thành các nhóm. Nó nói rằng không cần biết mọi thứ ngay lập tức; người ta cũng có thể đi tới biết cái gì đó bằng việc phá vỡ nó ra thành các bộ phận. Khoa học có thể đứng trên sức mạnh của trí tuệ. Nhưng có nguy hiểm – và điều này là ở chỗ trí tuệ cũng phá vỡ bất kì cái gì được thống nhất. Nó phân chia cái mà theo chính bản tính của nó là toàn thể toàn vẹn, thành nhiều bộ phận. Đó là lí do tại sao bất kì cái gì bạn học với sự giúp đỡ của trí tuệ không bao giờ có thể là việc biết tối thượng. Nó phải là chân lí một nửa vì nhiều bộ phận thế vẫn còn không được biết, nhiều khía cạnh cơ bản thế vẫn còn không được khám phá. Đó là lí do tại sao khoa học nói rằng mọi tri thức của nó chỉ là tạm thời, tri thức của nó không bao giờ có thể là thường hằng. Đó là lí do tại sao khoa học phải thay đổi và cập nhật tri thức của nó mọi ngày. Khoa học liên tục thay đổi mọi ngày.
Tôn giáo hỏi: giá trị của tri thức là gì mà cứ thay đổi mọi ngày? Giá trị của tri thức tạm thời là gì? Điều này ngụ ý rằng cái đã được hiểu là tri thức hôm qua trở thành cái không biết hôm nay – mặc dầu hôm qua nó cũng đã là không biết, nhưng chúng ta đã không biết điều đó. Cái là tri thức hôm nay trở thành cái không biết ngày mai. Khi chúng ta đi tới biết nhiều hơn, tri thức của chúng ta sẽ trở thành cái không biết. Vậy thế thì, tri thức là gì?
Tôn giáo nói rằng chừng nào chúng ta chưa đi tới biết cái toàn thể như cái toàn thể, chúng ta sẽ vẫn còn không biết gì. Cố biết cái toàn thể bằng việc chia nó thành các bộ phận là ảo tưởng. Điều đó hữu dụng, nhưng là ảo tưởng. Ảo tưởng cũng có thể là hữu dụng. Khoa học là ảo tưởng như vậy, nó rất hữu dụng. Tôn giáo nghiên cứu các hình thể khác của hiểu biết – hiểu biết thực, hiểu biết mà một khi được biết không bao giờ có thể lại trở thành không biết vì nó là vĩnh hằng.
Chúng ta có cái gì để đạt tới hiểu biết vĩnh hằng này? Giống như khoa học phân chia và đập phá ra, nếu chúng ta muốn hiểu biết vĩnh hằng chúng ta phải học nghệ thuật tổng hợp. Lời kinh đầu tiên này trỏ tới chính nghệ thuật đó. Nó nói:
Giết mọi cảm giác tách rời.
Phải không có nhị nguyên, không cảm giác về hai. Chỉ một nên còn lại. Và ngày không có khoảng cách còn lại giữa bạn và sự tồn tại, khi bạn thậm chí không còn cảm thấy, “Mình là người biết và vũ trụ bên ngoài là cái để được biết,” ngày không có khoảng cách giữa ngay cả người biết và cái được biết, khi mọi nhị nguyên biến mất, mọi rào chắn sụp đổ và bạn trở thành một với sự tồn tại – hệt như giọt sương rơi từ lá sen và trở thành một với ao – ngày mà không có gặp gỡ như vậy giữa bạn và sự tồn tại, chỉ thế thì cái đang biết trở thành được biết. Chỉ vào ngày đó cái được biết sẽ không bị mất đi nữa.
Chỉ cái được biết mang tới giải thoát. Khoa học dành cho sức mạnh, nhưng không dành cho giải thoát – vì khoa học chỉ có thể cho chúng ta sự kiện, cái là hữu dụng, nhưng nó không thể cho chúng ta chân lí vĩnh hằng. Chỉ có một quá trình trong việc tìm kiếm chân lí vĩnh hằng, và đó là trải nghiệm tính một.
Nhưng điều đó rất khó vì mọi cách cảm nhận của chúng ta đều dựa trên trí tuệ. Từ bất kì chỗ nào chúng ta nhìn, mọi thứ biến thành hai. Bây giờ, tôi đang nói, bạn đang nghe: đây là một hiện tượng. Người nói, ở đây, là đầu này và thính giả, ở kia, là đầu kia – nhưng hiện tượng này là một. Điều đang xảy ra ở đây là riêng một hiện tượng. Nói-và-nghe đang xảy ra ở đây, nhưng nó không phải là hai điều. Tại đầu này việc nói đang xảy ra và tại đầu kia việc nghe xảy ra. Đây là hai cực của cùng một trải nghiệm – trải nghiệm là một. Nhưng khi bạn bắt đầu nghĩ, người nói và người nghe trở thành tách rời.
Tại khoảnh khắc của việc nghe, khi tâm trí bạn không làm việc nhưng nghe một cách im lặng, thế thì không có hai. Vào khoảnh khắc nói, khi tâm trí không làm bất kì cái gì, không nghĩ về bất kì cái gì, khi việc nói thuần khiết và việc nghe thuần khiết gặp gỡ – chỉ một còn lại. Người nói không có đó, mà người nghe cũng không có đó; đây là điểm mà việc hiểu và đối thoại xảy ra. Nhưng chỗ người nói hiện hữu là tách rời và chỗ người nghe hiện hữu là tách rời, thế thì sẽ chỉ có biện luận… biện luận sẽ cứ chuyển quanh bên trong.
Thực ra, chúng ta càng đi sâu vào bên trong, chúng ta càng nhận ra tính một. Nhưng khoảnh khắc chúng ta quay về suy nghĩ, dường như là mọi sự đã trở nên lại bị phân chia, rằng chúng đã trở thành hai, và rằng chúng đã trở nên tách rời. Người đang nói và người đang nghe trở thành khác nhau.
Khi hai người đang trong yêu say đắm hay đang trong tình bạn sâu sắc, thế thì không có hai trong yêu của họ. Chỉ yêu còn lại; người yêu và người được yêu cả hai biến mất. Và chỉ khi sự biến mất này xảy ra thì yêu được sinh ra. Chừng nào chưa có sự biến mất này, yêu không được sinh ra. Nhưng ngay khi chúng ta bắt đầu nghĩ về yêu, người yêu là tách rời và người được yêu là tách rời.
Khi người sùng kính mê mải trong việc sùng kính của mình, không khoảng cách nào tách rời người đó khỏi sự tồn tại. Nếu khoảng cách nào đó còn lại, thế thì sùng kính là không đầy đủ, nó không phải là sùng kính thực. Trong sùng kính, cả đối thể và người sùng kính biến mất và chỉ sự hiện diện còn lại – cả hai bờ hợp lại, chỉ để một sự tồn tại. Nhưng khi chúng ta bắt đầu nghĩ về sùng kính, đối thể của sùng kính là tách rời và người sùng kính là tách rời.
Nhưng quên ví dụ này đi. Có lẽ bạn thậm chí đã không trải nghiệm yêu, vì ngay cả trải nghiệm về yêu đã trở thành rất khó. Và bạn chắc chắn không thể có trải nghiệm về sùng kính, vì điều đó đã trở thành gần như không thể được. Trong xã hội nơi trải nghiệm ngay cả yêu đã trở thành rất khó, trải nghiệm về sùng kính là không thể được. Làm sao những người thậm chí không biết tới yêu có thể biết tới sùng kính? Yêu là chiếc thang duy nhất trong thế giới qua đó một người có thể trèo lên ngôi đền của sùng kính – nhưng những người thậm chí đã không yêu trong cuộc sống của họ thì sẽ không bao giờ có khả năng hiểu được nước cam lồ của nó.
Điều này không ngụ ý rằng yêu là sùng kính, nhưng thay vào đó yêu là việc chuẩn bị cho sùng kính. Nó ngụ ý rằng nếu có bất kì hiện tượng nào trên thế giới mà tới gần nhất với sùng kính, đó là yêu giữa hai người. Tại sao? – vì trong yêu say đắm giữa hai người, bất nhị được thoáng nhìn thấy. Người ta có được chỉ những thoáng nhìn, nhưng điều đó là đủ.
Khi trời tối, khi có tối tuyệt đối khắp xung quanh, ngay cả một chớp loé của sét đủ làm lộ ra nhiều thứ. Nó lại biến mất vì sét không phải là đèn bạn có thể cầm trong tay để tìm đường, mà chỉ là đêm tối, nếu thậm chí có một chớp loé của sét và bạn bắt được thoáng nhìn về đường, cái nhìn của bạn thay đổi và sợ của bạn bị vượt qua. Bây giờ bạn biết rằng đường tồn tại.
Bạn đã có chỉ một thoáng nhìn về nó, nhưng bạn trở nên bạo dạn, vẫn biết rằng bây giờ bạn có thể tìm kiếm nó, bây giờ bạn có thể dò dẫm theo đường của bạn. Bây giờ, cho dù bạn phạm sai lầm và lạc đường một chốc, bạn sẽ không đánh mất tin cậy của bạn vì bạn đã có thoáng nhìn về đường, và bạn biết nó có đó. Bạn có thể phạm sai lầm trong tối, bạn có thể bị lạc, có thể mất thời gian, nhưng bạn sẽ đạt tới đích đến của bạn vì đường có đó! Bây giờ tin cậy được sinh ra.
Sùng kính trở thành có thể trong các kiếp sống của những người đã có trải nghiệm về yêu. Có tin cậy – ít nhất họ đã trải nghiệm hai nhân cách tan chảy; một khoảnh khắc tới khi hai người có thể hội nhập. Khoảnh khắc như vậy đã là có thể trong một giây – nó đánh như sét và tan biến, nhưng trong khoảnh khắc đó họ có thể thấy rằng đã không còn hai người, và chỉ có tính một còn lại. Từ khoảnh khắc đó khả năng của điều thiêng liêng và người sùng kính trở thành một là có thật – điều đó có thể được tin cậy, điều đó có thể được tin tưởng.
Đó là lí do tại sao tôi nói rằng sùng kính đã trở nên khó thế, vì khả năng của yêu đã trở thành khó thế. Nhưng một điều cần được hiểu – hiện tượng biến mất của nhị nguyên. Chúng ta hãy nhìn vào nó từ vài khía cạnh khác. Có lẽ bạn cũng có thể đã cảm thấy rằng trong khoảnh khắc nào đó bạn đã biến mất. Không thành vấn đề làm sao khoảnh khắc đó có thể đã tới, từ đâu nó có thể đã tới; nếu như thậm chí đã có một khoảnh khắc như vậy trong cuộc sống của bạn…
Có thể đó đã là một kinh nghiệm về cái đẹp – bạn đã ngồi gần một đoá hoa, và chỉ nhìn vào nó căn cước của bạn biến mất, hoa cũng biến mất, và chỉ hương thơm của hoa, cái đẹp của hoa còn lại với bạn. Cả hai cực tan biến và chỉ việc cảm nhận về cái đẹp trong suốt còn lại. Thế thì bạn có thể có được ý tưởng về điều lời kinh này gợi ý. Hay có lẽ đã có một khoảnh khắc trong khi nghe nhạc khi người nghe và nhạc sĩ bị quên đi, và chỉ nhạc còn lại. Điều đó có thể cho bạn ý tưởng về điều kinh nghiệm về bất nhị giống cái gì.
Và bạn sẽ chỉ dần biết kinh nghiệm tối thượng này là giống cái gì khi nó xảy ra cho bạn. Nhưng trong khi đó, nếu có bất kì khoảnh khắc nào của cái đẹp, của yêu, của cảm giác vui vẻ nào đó trong cuộc sống của bạn – khi bạn cảm thấy rằng người biết và cái được biết đã không còn là hai, khi bạn cảm thấy rằng người quan sát và cái được quan sát đã tan biến và chỉ con sóng trải nghiệm còn lại – con sóng mà trong đó cả hai bờ biến mất và chỉ tính một còn lại… Nếu bạn đã bao giờ có trải nghiệm như vậy, sẽ dễ dàng cho bạn hiểu lời kinh này.
Nếu bạn không có, thể thì thiền là cách để có việc nhận ra như vậy. Thử làm chìm ngập bản thân bạn vào trong thiền theo cách mà bạn thậm chí không nhận biết về thiền, theo cách mà bạn thậm chí không có ý tưởng rằng bạn đang thiền – thậm chí không một ý nghĩ còn lại rằng bạn đang thiền về cái gì đó hay ai đó – và bạn trở nên phúc lạc tới mức các quan niệm về nhị nguyên tan biến.
Điều này là có thể trong buổi kirtan buổi chiều, hát và múa sùng kính. Nếu bạn trở nên bị hấp thu toàn bộ trong điệu vũ, vũ công tan biến, thế giới bên ngoài tan biến và “hiện hữu” của người ta cũng tan biến. Duy nhất hành động còn lại, hành động thuần khiết của múa, của phúc lạc, của mở hội lớn. Tại đỉnh cao như vậy, trong khoảnh khắc như vậy, mọi kinh nghiệm về nhị nguyên tan biến và chỉ một còn lại. Tính một này là bao la – tất cả được bao hàm trong nó. Những cây ở gần này là một phần của nó; bầu trời nữa cũng là một phần của nó, và đất này nữa. Toàn thể sự tồn tại được bao hàm trong nó. Không cái gì là bên ngoài trải nghiệm này; tất cả trở thành một trong nó.
Thiền là kiểu nhận ra này. Và khi việc nhận ra như vậy trở thành sâu tới mức nó không thể bị mất đi dù bạn bước, hay ngồi, hay ăn, hay uống; dù bạn ở trong thế giới hay trong tu viện, dù bạn ở trong cửa hàng, hay trong đền chùa – khi không có cách nào đánh mất việc nhận ra này, khi không thành vấn đề bạn làm gì, nó vẫn còn nguyên si – thế thì chính việc nhận ra này trở thành samadhi. Chúng ta đang đảm nhận cuộc hành trình cho samadhi này.
Từ “Tiếng nói của im lặng”, Ch.3 Cảm giác tách rời
