Chân lí không thể được dạy… nhưng nó có thể được học. Và giữa hai câu này là chìa khoá của mọi việc hiểu. Cho nên để tôi nhắc lại: chân lí không thể được dạy, nhưng nó có thể được học – vì chân lí không phải là giáo huấn, không phải là học thuyết, không phải là lí thuyết, triết lí hay cái gì đó tựa như thế. Chân lí là sự tồn tại. Chân lí là hiện hữu. Không cái gì có thể được nói về nó.
Nếu bạn bắt đầu nói cái gì đó về nó, bạn sẽ đi lòng vòng. Bạn sẽ nói vòng vo, nhưng bạn sẽ không bao giờ đạt tới trung tâm của nó. Một khi bạn hỏi một câu hỏi về, bạn đã trên con đường bỏ lỡ nó. Nó có thể được đương đầu trực tiếp, nhưng không qua về. Không có via media. Chân lí là ở đây và bây giờ. Duy nhất chân lí hiện hữu. Không cái gì khác tồn tại. Cho nên khoảnh khắc bạn nêu ra một câu hỏi về nó tâm trí đã chuyển đi xa. Bạn ở chỗ nào đó khác, không ở đây và bây giờ.
Chân lí không thể được dạy vì lời không thể truyền đạt được nó. Lời là bất lực. Chân lí là bao la, bao la vô cùng, vô hạn. Lời là rất hạn hẹp. Bạn không thể ép buộc chân lí vào lời, điều đó là không thể được. Và làm sao người ta sẽ dạy được mà không có lời?
Im lặng có thể là thông điệp. Nó có thể truyền đạt, nó có thể trở thành phương tiện. Nhưng thế thì vấn đề không phải là mối quan tâm của thầy để dạy nó. Vấn đề là mối quan tâm của đệ tử để học nó.
Nếu đó mà là vấn đề dạy, thế thì thầy sẽ làm cái gì đó.
Nhưng lời là vô dụng – không cái gì có thể được làm với chúng. Thầy có thể vẫn còn im lặng và có thể cho thông điệp từ mọi lỗ chân lông của con người thầy – nhưng bây giờ đệ tử phải hiểu nó. Không được ai giúp đỡ, không có bất kì giúp đỡ nào từ thầy, đệ tử phải nhận nó.
Đó là lí do tại sao trong thế giới tôn giáo, các thầy giáo không tồn tại, chỉ có các thầy. Thầy giáo là người dạy, thầy là người hiện hữu. Thầy giáo là người nói về chân lí, thầy là bản thân chân lí. Bạn có thể học, nhưng thầy không thể dạy.
Thầy có thể có đó, mở, sẵn có – bạn phải uống thầy, và bạn phải ăn thầy. Bạn phải thấm đẫm thầy. Bạn phải trở nên mang thai với thầy. Bạn phải hấp thu.
Thầy là người đã trở thành chân lí và là sẵn có cho tất cả những ai sẵn sàng hấp thu thầy; do đó Jesus nói với đệ tử của ông ấy: Ăn ta đi. Chân lí có thể được ăn; nó không thể được dạy. Bạn có thể cho phép nó đạt tới bạn, nhưng nó không thể bị áp đặt lên bạn.
Chân lí là tuyệt đối bất bạo hành, nó thậm chí sẽ không gõ cửa nhà bạn – ngay cả chừng nấy sẽ là hung hăng quá nhiều.
Nếu bạn cho phép, nếu bạn có tính nhạy cảm, nó tất cả có đó. Nếu bạn đóng, nếu bạn không nhạy cảm, trong hàng triệu kiếp bạn có thể đi tìm nó và bạn sẽ liên tục bỏ lỡ nó. Và nó thì bao giờ cũng ở đó rồi, nó bao giờ cũng là hoàn cảnh rồi. Thậm chí không một bước nào được cần. Thậm chí không cần mở mắt nữa. Thậm chí không một chuyển động nào hướng tới nó là được cần. Nó đã ở đó rồi: bạn phải có tính cảm nhận.
Chân lí không thể được dạy, nhưng dầu vậy, bạn có thể học nó. Cho nên toàn thể nghệ thuật tuỳ thuộc và cách trở thành đệ tử.
Nhân loại bị phân chia thành ba phần. Một phần, phần đa số, gần chín mươi chín phần trăm, không bao giờ bận tâm về chân lí. Phần này vẫn còn quên lãng. Phần này là việc ngủ hoàn toàn. Phần này không có truy hỏi. Phần này sống cuộc sống mộng du. Câu hỏi về, ‘Chân lí là gì?” không bao giờ nảy sinh. Đây là phần lớn hơn của nhân loại.
Họ sống trong dốt nát, hoàn toàn vô nhận biết rằng họ là người dốt, không chỉ vô nhận biết rằng họ là người dốt – họ có thể nghĩ và mơ rằng họ biết.
Thực ra đây là một phần của giấc ngủ của họ, rằng họ nghĩ họ biết. Và cần gì học? Phá huỷ nhu cầu học, đây là điều tốt nhất để làm: liên tục cảm thấy rằng bạn đã biết. Thế thì không có vấn đề học, không cần trở thành đệ tử. Bạn được thoả mãn, ở trong nấm mồ của bạn. Bạn là người chết.
Đây là phần lớn hơn của nhân loại. Cho dù bạn tiếp cận tới những người của mảng này và nói cho họ chân lí, họ sẽ cười. Họ sẽ nói bạn đang nói điều vô nghĩa. Không chỉ thế, họ sẽ phủ nhận rằng có bất kì cái gì như chân lí hay Thượng đế hay niết bàn. Nếu bạn cho họ thông điệp của người chứng ngộ họ sẽ nói chưa bao giờ tồn tại người như vậy, và người đó không thể tồn tại được: “Chúng ta là toàn thể nhân loại.”
Ai đó đã hỏi Voltaire về nguồn gốc của tôn giáo, và Voltaire tương truyền đã nói, “Tôn giáo được sinh ra khi kẻ lừa đảo đầu tiên gặp kẻ ngu đầu tiên trên trái đất.” Trong việc bắt gặp của kẻ lừa đảo và kẻ ngu, tôn giáo được sinh ra. Điều này có một yếu tố chân lí trong nó. Nó là đúng theo một nghĩa nào đó, nhưng nó đúng không về tôn giáo, mà về tôn giáo rởm.
Tôn giáo được sinh ra, không giữa kẻ lừa đảo và kẻ ngu – tôn giáo rởm được sinh ra theo cách đó – tôn giáo được sinh ra giữa thầy và đệ tử. Tôn giáo được sinh ra giữa người đã đạt tới và người là đích thực trong việc tìm đạt tới nó. Tôn giáo được sinh ra giữa chân lí và đệ tử.
Nhưng phần thứ nhất của nhân loại vẫn còn hoàn toàn vô nhận biết, vô nhận biết một cách phúc lạc, vì khi không có truy hỏi, không có tìm kiếm, họ sống cuộc sống thuận tiện mà không nỗ lực nào. Họ liên tục rơi xuống. Họ không bao giờ vươn lên, họ không bao giờ đạt tới các đỉnh. Và họ không biết. Họ không chỉ không biết, họ không bao giờ mơ rằng có các đỉnh trải nghiệm, các chiều cao cực lạc.
Họ vẫn còn gần như con vật: ăn, ngủ – và bị giới hạn vào những điều như vậy. Cuộc sống thường lệ trôi đi như bánh xe; họ được sinh ra, họ sống, họ cho việc sinh ra người khác, và họ chết. Và bánh xe tiếp tục quay: họ lại được sinh ra, cùng điều được lặp đi lặp lại, phát buồn nôn.
Thế rồi có phần thứ hai của nhân loại: vài người, những người truy hỏi. Nhưng họ không biết cách học. Họ tìm, nhưng họ không hiểu rằng việc tìm này cần biến đổi bên trong, chỉ thế thì điều đó mới trở thành có thể. Chuyển hoá bên trong được cần tới.
Theo chiều hướng này, việc học không giống như những việc học khác. Bạn có thể học hoá học, vật lí, toán học mà không có bất kì thay đổi nào trong ý thức của bạn. Không có nhu cầu thay đổi ý thức của bạn; như bạn vậy, bạn có thể học. Nhưng tôn giáo là việc học trong đó yêu cầu cơ bản là: Đầu tiên thay đổi ý thức của bạn.
Ngay cả trước khi việc học này bắt đầu bạn phải được chuẩn bị cho nó. Việc chuẩn bị lâu dài được cần, bằng không việc học không thể bắt đầu.
Phần thứ hai này truy hỏi, nhưng không sẵn sàng, cho nên đi lòng vòng trong các lí thuyết, giả thuyết, phóng chiếu tâm trí con người, những phát minh của người nói giỏi, nói nhiều, triết lí, siêu hình – có cả nghìn lí thuyết sẵn có cho kiểu người này.
Người đó có thể chọn – thị trường là bao la, và người đó có thể liên tục đổi từ lí thuyết này sang lí thuyết khác, vì không lí thuyết nào có thể cho bạn điều đúng. Các lí thuyết không thể cho được, cho nên bạn phát chán với lí thuyết này, thế rồi bạn chọn lí thuyết khác; bạn phát chán với thầy giáo này, thế rồi bạn chuyển sang thầy giáo khác – và mọi người liên tục làm vậy, họ trở thành những người lang thang.
Tôi bắt gặp kiểu người thứ hai này mọi ngày. Họ đã từng ở đạo tràng này, họ đã từng ở đạo tràng kia, họ đã từng tới thầy giáo này và thầy giáo kia, và họ đã đi từ thầy nọ sang thầy kia: chẳng cái gì thoả mãn. Nhưng họ không nhận biết rằng vấn đề không phải về thầy, họ thiếu chính việc chuẩn bị cơ bản. Họ còn chưa sẵn sàng là đệ tử, và nếu bạn không sẵn sàng là đệ tử, làm sao bạn có thể tìm ra thầy? Truyền thống đã có việc khi đệ tử sẵn sàng thầy xuất hiện theo cách riêng của thầy. Bạn thậm chí không cần tìm thầy, thầy sẽ tới. Bất kì khi nào đệ tử sẵn sàng, thầy sẽ lập tức xuất hiện. Bạn liên tục đi tìm thầy và thầy không bao giờ xuất hiện. Cái gì đó sai bên trong bạn. Cái gì đó bên trong bạn làm thất bại toàn thể nỗ lực này. Bạn không sẵn sàng.
Bạn không thể gặp thầy theo các điều kiện của bạn, bạn phải hoàn thành các điều kiện của thầy. Và họ là vĩnh hằng, họ không bao giờ thay đổi, họ vẫn còn như vậy. Người ta phải học cách là đệ tử.
Phần thứ hai này của nhân loại trở thành số đông những người truy hỏi lang thang. Họ không bao giờ thu được cái gì đáng kể. Họ trở thành đá lăn, không bao giờ dính được chút rêu nào. Họ cứ thế mà… lăn.
Thế rồi có phần thứ ba – những người rất hiếm hoi, ngoại lệ, tinh hoa của nhân loại.
Phần thứ ba đó là những người đi tìm kiếm, người truy tìm; nhưng việc truy tìm này không có tính trí tuệ, việc truy tìm này là toàn bộ. Việc truy tìm này không giống việc học bất kì môn học nào; việc truy tìm là toàn bộ tới mức họ sẵn sàng chết vì nó, họ sẵn sàng thay đổi toàn thể con người họ vì nó. Họ sẵn sàng hoàn thành mọi điều kiện. Ngay cả chết là một điều kiện, họ sẵn sàng chết. Nhưng họ muốn biết chân lí là gì, họ muốn ở trong thế giới chân lí; họ không muốn sống trong thế giới của dối trá và ảo tưởng và mơ và phóng chiếu.
Kiểu thứ ba này có thể trở thành đệ tử. Và duy nhất kiểu thứ ba này, khi họ đạt tới, có thể trở thành thầy.
Đó là lí do tại sao tôi nói chân lí không thể được dạy nhưng nó có thể được học. Nhưng thế thì toàn thể sự việc phụ thuộc vào bạn.
Thầy tồn tại – bạn phải ở trong sự hiện diện của thầy mà hoàn toàn trống rỗng bản thân bạn. Đó là nghĩa của chết. Đệ tử tới và chết trước thầy. Đó là điều buông xuôi ngụ ý.
Anh ta tới và bỏ bản thân mình bên ngoài cửa. Khi anh ta cởi giầy, anh ta bỏ lại bản thân mình ở đó nữa. Anh ta tới thầy hoàn toàn rỗng. Trong chính rỗng đó, chân lí là có thể. Trong chính rỗng đó thầy bắt đầu tuôn chảy. Thầy trở thành giống như thác đổ mênh mông, rơi vào thung lũng của đệ tử. Từ các đỉnh bản thể của thầy, thầy đạt tới chiều sâu tận cùng của bản thể của đệ tử. Và nhớ, thầy không làm bất kì cái gì, điều đó đơn giản xảy ra. Khi thung lũng sẵn sàng, thác đổ xảy ra theo cách riêng của nó. Bản thể của thầy bắt đầu chảy hướng tới đệ tử.
Không phải là thầy đang làm cái gì đó, không phải là đệ tử đang làm cái gì đó – không ai làm bất kì cái gì. Thầy hiện diện cho đệ tử, và đệ tử hiện diện cho thầy, và hiện tượng này xảy ra theo cách riêng của nó. Đó là cú nhảy của ngọn lửa từ thầy vào trong lòng của đệ tử. Nhưng tấm lòng đệ tử cần vẫn còn mở, và đệ tử cần vẫn còn rỗng – chỉ là đầu nhận.
Đó là lí do tại sao tôi nói đi nói lại rằng nghệ thuật về tính đệ tử là nghệ thuật của việc là ý thức nữ tính: cảm nhận, cho phép, không tạo ra rào chắn, không đóng cửa, không là an toàn và an ninh. Tin cậy.
Tin cậy là từ chính. Và trong tin cậy, chân lí xảy ra. Tin cậy là sẵn sàng để học. Vâng, tin cậy là từ chính. Tin cậy là việc thành đệ tử.
Nếu bạn vẫn nghĩ, thế thì bạn vẫn trong kiểm soát. Bạn đã không buông xuôi. Nếu bạn vẫn nói điều này là đúng và điều kia là không đúng, thế thì tâm trí bạn có đó, thế thì bạn thuộc về phần thứ hai của nhân loại, không thuộc về phần thứ ba.
Bây giờ, để tôi phân chia ba phần này lần nữa từ một hướng khác. Phần thứ nhất của nhân loại có nghi ngờ như hồn của nó, và nghi ngờ là mạnh tới mức nó gần như giống tin cậy vào nghi ngờ, tin vào nghi ngờ. Nó mạnh thế vì phần thứ nhất của nhân loại – phần lớn nhất – phần đa số, không bao giờ nghi ngờ việc nghi ngờ riêng của mình. Nó tin cậy vào nghi ngờ.
Nếu bạn quá nghi ngờ, quá chắc chắn trong nghi ngờ, bạn sẽ bị đóng hoàn toàn. Ngay cả một cửa sổ cũng sẽ không mở ra. Là đệ tử là rất rất xa vời; thế thì ngay cả trở thành học sinh cũng khó. Ngay cả ý tưởng rằng ai đó biết nhiều hơn bạn cũng là không thể được để bạn xem xét.
Phần này vẫn còn ngu, đần. Nó là phần tựa đá, chết, không có sống, vì chừng nào năng lượng chưa chuyển động liên tục vào cái không biết, bạn không thể có sống.
Khi mà mọi ngày bạn đều đi vào trong cái không biết, chỉ thế thì bạn là sống động, đập rộn ràng. Tim bạn đang đập. Bạn đang trưởng thành. Trưởng thành bao giờ cũng từ cái biết vào trong cái không biết.
Phần thứ hai của nhân loại truy hỏi; nghi ngờ của nó bị rung chuyển. Nhưng tin cậy của nó còn chưa được tiếp đất. Nó không còn là phần của nhân loại lớn hơn, nó đã đi xa khỏi họ một chút ít – cho dù vậy chút ít đó cũng là quá nhiều để không cho phép họ quay lui – nhưng nó vẫn trong trạng thái lấp lửng, chỉ treo ở giữa. Nó không có tin cậy.
Phần thứ nhất tin cậy quá nhiều vào nghi ngờ, phần thứ hai đã đi tới nghi ngờ việc nghi ngờ của nó, nhưng tin cậy không được sinh ra. Phần thứ ba tin cậy và tin cậy. Tin cậy là tuyệt đối. Người của phần thứ hai sẽ gọi bạn là mù. Shraddha của bạn, tin cậy của bạn vào tin cậy, sẽ xuất hiện cho họ như chứng mù. Phần thứ nhất của nhân loại sẽ gọi bạn là điên. Tin cậy của bạn sẽ có vẻ chỉ giống như điên. Làm sao một người nghĩ có thể tin một cách toàn bộ thế? Điều đó là không thể được. Nhưng phần thứ ba, với họ tin cậy đã xảy ra, chứng mù sẽ là năng lực duy nhất để thấy. Và chứng điên sẽ là lành mạnh duy nhất.
Ba nhân loại này có các ngôn ngữ khác nhau. Họ không giao tiếp với nhau – điều đó gần như không thể được. Điều đó giống hệt khi bạn nói với ai đó người không biết tiếng của bạn, và bạn không biết tiếng của người đó – nhiều nhất thông qua cử chỉ thì một chút ít giao tiếp là có thể, nhưng không mấy.
Từ “Y như vậy”, Ch.1 Giáo huấn không thể được dạy
