Người Sufi nói rằng duy nhất phần thứ ba của nhân loại có thể học. Các thầy Sufi rất có tính chọn lọc. Rất khó được thầy Sufi chấp nhận, rất rất khó. Họ tạo ra đủ mọi loại chướng ngại quanh họ.
Thứ nhất, họ sống theo cách bình thường tới mức bạn không thể nghi ngờ rằng đây là thầy. Họ sống theo cách tuyệt đối bình thường. Chẳng hạn, thầy có thể là thợ rèn hay thợ giầy hay thợ dệt hay thợ giết mổ hay thợ mộc – chỉ thế giới rất bình thường. Bạn không thể nghi ngờ rằng người làm giầy và sửa giấy cho bạn lại là thầy. Ông ấy sẽ không cho phép bất kì nghi ngờ nào; đó là cách ông ấy tự bảo vệ mình khỏi những người không sẵn sàng nhưng nghĩ bản thân họ sẵn sàng. Ông ấy bảo vệ bản thân mình khỏi những người xâm nhập theo cách này.
Bạn sẽ không bao giờ thấy một thầy Sufi đi tới nhà thờ hồi giáo hay đền chùa – tới bất kì chỗ công cộng nào – để cầu nguyện. Không, ông ấy cầu nguyện khi mọi người ngủ say, vào nửa đêm. Ngay cả vợ ông ấy có thể không nghi ngờ rằng ông ấy đã đạt tới. Không, đây là một phần của phương pháp Sufi – không cho phép bất kì người nào biết.
Jesus phải đã sống cùng với những người Sufi nào đó ở Ai Cập. Ông ấy mang vài điều của giáo huấn của họ vào Kinh Thánh. Một trong chúng là: Bất kì cái gì ông làm với tay phải của ông, đừng cho phép tay trái của ông biết về nó. Đây là truyền thống Sufi: Sống hoàn toàn trong tối, để cho không ai biết và kẻ xâm nhập không tới, người tìm kiếm rởm không gõ cửa, và người ngu không xâm phạm vào thời gian của bạn và năng lượng của bạn.
Thế rồi thứ hai, nếu ai đó tới để biết về một thầy Sufi, bạn sẽ phải đợi ông ấy trong nhiều năm – như việc tập sự, không vì thiền. Nếu ông ấy là người làm giầy, bạn sẽ phả học làm giầy trong nhiều năm. Và họ là những đốc công nghiêm khắc. Đôi khi mười, mười hai năm sẽ trôi qua và bạn sẽ đơn giản làm việc trên giầy và chuẩn bị giầy, và câu hỏi phải không bao giờ được nêu ra, cho tới khi đích thân thầy hỏi, “Ông đã tới để làm gì? Ông muốn gì?”
Ông ấy sẽ theo dõi bạn. Ông ấy sẽ ở cùng bạn. Trong sự cùng nhau đó cái gì đó sẽ trưởng thành lên, dần dần, qua phương pháp luận rất gián tiếp – chẳng hạn, việc làm giầy. Đó là thiền vì đệ tử được bảo làm duy nhất việc được trao cho làm; không cho phép bất kì suy nghĩ nào.
Và nhớ điều này, nếu bạn làm việc bằng tay có nhiều khả năng tâm trí vẫn còn trống vắng. Nếu bạn làm việc bằng tâm trí, thế thì tất nhiên có ít khả năng hơn vì tâm trí sẽ phải nghĩ.
Người Sufi làm việc bằng tay – dệt thảm, làm giầy, làm mộc, hay bất kì cái gì dù là cái gì, nhưng bằng tay của họ. Tay và đầu là hai cực, và nếu năng lượng của bạn chuyển qua tay, đầu ngớt dần đi. Và nếu trong nhiều năm, mười hai năm – thời gian lâu thế! – bạn đơn giản làm việc bằng tay, bạn quên hoàn toàn cái đầu. Không có nhu cầu về nó. Đầu trở nên không vận hành, và đó là điều được cần cho đệ tử: đầu phải ở trạng thái không vận hành. Suy nghĩ phải dừng lại. Tâm trí phải trở thành giống như vô tâm trí. Không được đổ đầy nó bằng ý nghĩ, mơ, ý tưởng. Hoàn toàn rỗng.
Khi đệ tử là người học việc, làm giầy, thầy liên tục theo dõi điều đang xảy ra trong đầu anh ta. Năng lượng có hoàn toàn chuyển vào tay không?
Bây giờ các nhà sinh lí đồng ý rằng nếu bạn làm việc bằng tay, cùng năng lượng này chuyển đi từ đầu. Năng lượng vẫn thế. Tay phải của bạn được nối với não trái của bạn, tay trái của bạn được nối với não phải của bạn. Thử điều này: bất kì khi nào bạn cảm thấy rằng có quá nhiều suy nghĩ, và bạn không thể dừng được nó, cọ cả hai bàn tay nhanh, làm cho chúng nóng lên bởi việc cọ, và đột nhiên bạn sẽ cảm thấy cái đầu đã dừng lại, năng lượng đang chuyển vào tay.
Những người không ngủ được – đây là thuốc tốt nhất cho họ biết tới, tốt hơn bất kì thuốc an thần nào. Chỉ nhắm mắt lại và cọ hai bàn tay, và cảm thấy chúng mỗi lúc một ấm hơn – và qua việc cọ này chúng sẽ được ấm hơn – và bạn cũng đưa vào trong tưởng tượng của bạn rằng chúng đang ấm hơn. Khi hai bàn tay ấm lên rồi, cái đầu trở nên mát. Đây là hai cực.
Tay phải ấm, và đầu phải mát. Nhưng khi có quá nhiều suy nghĩ, đầu sẽ ấm và tay sẽ mát. Điều đó là không lành mạnh. Bạn đang đi hướng tới điên. Một khoảnh khắc sẽ tới khi đầu bắt đầu vận hành theo cách riêng của nó, không được kết nối với toàn thân. Đó là điều điên ngụ ý: một phần đã trở nê tự trị, một phần đã trở nên độc đoán.
Các Thiền sư ở Nhật bao giờ cũng liên tục làm việc bằng tay. Các thầy Sufi ở các nước Mô ha mét giáo bao giờ cũng liên tục làm bằng tay. Làm cái gì đó bằng tay bao giờ cũng là hay. Nó mang năng lượng trong đầu của bạn xuống thân thể.
Nếu bạn tiếp tục làm việc với tay trong nhiều năm bạn trở thành vô đầu. Phần vật lí của đầu vẫn còn đấy, nhưng phần năng lượng, phần suy nghĩ, biến mất; bạn trở thành vô đầu.
Trong nhiều năm đệ tử phải ở cùng với thầy. Khó đấy trừ phi bạn tin cậy, vì ai biết liệu người này là thầy hay không? Ai biết liệu ông ấy đã đạt tới hay không? Làm sao phán xét? Nhưng nếu bạn tin cậy, dần dần đồng cảm bên trong với thầy xảy ra, đồng cảm bên trong, cũng như đôi khi nó xảy ra với những người yêu, nhưng hiếm, vì những người yêu không bao giờ buông xuôi. Họ nói về nó, họ nói họ đã buông xuôi, nhưng họ không bao giờ buông xuôi. Thực ra qua buông xuôi họ có thể cố thao túng người khác, buông xuôi có thể chỉ là thủ đoạn. Tranh đấu tiếp diễn trong những người yêu.
Hiếm khi, nhưng đôi khi nó xảy ra, nếu hai người thực sự trong yêu, đồng cảm xảy ra. Chỗ nào đó họ trở thành một. Chiếc cầu đi vào sự tồn tại. Thân thể vẫn còn là hai, nhưng ngọn lửa bên trong của họ tới gần nhau đến mức chúng trở thành một. Hiến khi điều đó xảy ra trong yêu; và chỉ cho các khoảnh khắc – rồi những ngọn lửa đó rời xa, rồi lại tới cùng nhau, lại đi ra xa. Điều đó cứ liên tục là vậy. Những giữa đệ tử và thầy, khi sự gần gũi này xảy ra nó sẽ liên tục tăng lên ngày càng gần hơn, và một khoảnh khắc tới khi chỉ hai thân thể tồn tại: đâu đó trong thế giới bên trong các bản thể không còn là hai. Cú nhảy, bước nhảy của ngọn lửa đã xảy ra.
Học từ thầy là học cách ở cùng thầy. Học từ thầy là học cách không ở cùng bản thân bạn.
Việc học tôn giáo là chiều khác toàn bộ với các việc học khác, các bộ môn khác. Trong các bộ môn khác bạn vẫn còn như cũ. Và bạn bắt đầu tích luỹ thông tin. Bạn muốn học về địa lí – bạn đi tới thầy giáo và bạn học. Bạn vẫn còn là người cũ, chỉ thông tin tin liên tục tăng lên. Bạn trở nên ngày càng am tường hơn, nhưng con người bạn, phẩm chất của con người bạn, trạng thái của con người bạn vẫn còn như cũ.
Khi bạn tới để học tôn giáo, hay chân lí, thế thì việc học là khác: nó không phải là tích luỹ thông tin, nó không phải là làm tăng tri thức của bạn; nó là trưởng thành trong con người bạn. Không phải là bạn sẽ biết nhiều hơn, nhưng bạn sẽ hiện hữu nhiều hơn. Không phải là trí nhớ của bạn sẽ được kỉ luật hơn, không, nhưng con người bạn, chính con người bạn sẽ trở nên tĩnh lặng và im lặng, phúc lạc hơn.
Tôn giáo là việc học hiện hữu. Và mọi việc học khác chỉ là huấn luyện trí nhớ. Mọi môn học khác cho bạn tri thức. Tôn giáo cho bạn việc biết, không cho tri thức; việc biết, năng lực thấy, năng lượng vô cùng để hiện hữu. Sự khác biệt này phải được hiểu, thế thì bạn sẽ có khả năng hiểu đối thoại nhỏ này – nhưng rất có uy lực.
Một người tới Libnani, một thầy giáo Sufi, và việc trao đổi này xảy ra.
Người: Tôi muốn học. Thầy dạy tôi chứ?
Người này nhấn mạnh vào ước muốn của mình. Điều đó là cần nhưng không đủ. Bạn có thể ước muốn, điều đó không chỉ ra rằng bạn sẵn sàng. Ước muốn của bạn có thể chỉ là mơ, ước muốn của bạn có thể dựa trên các lí do sai, ước muốn của bạn không có sức mạnh ý chí đằng sau nó, nó có thể không hiệu lực. Ước muốn của bạn có thể là ước muốn của kẻ ăn xin – và chân lí là không thể được cho người ăn xin. Ước muốn của bạn có thể chỉ ấu trĩ. Tình cờ bạn có thể chợt nghĩ ra ý tưởng rằng người ta cần chân lí, rằng người ta cần biết Thượng đế.
Ước muốn là rất mong manh chừng nào nó chưa trở thành ham muốn bùng cháy – điều Sri Aurobindo gọi là abhipsa. Abhipsa nghĩa là một ham muốn bùng cháy mãnh liệt tới mức bạn hoàn toàn bị hấp thu bởi nó. Không cái gì của bạn bị bỏ lại đằng sau. Không phải một phần của bạn ham muốn, chính toàn thể bạn ham muốn. Ham muốn đã trở thành con người bạn. Thế thì nó là abhipsa. Nó là ham muốn toàn bộ trong đó mọi thứ đều bị buông xuôi.
Ước muốn chỉ là gợn sóng trên bề mặt tâm trí. Bạn đang đi qua trên đường và một xe Rolls Royce đẹp đi qua: Ước muốn tới trong tâm trí rằng bạn cũng muốn có một chiếc Rolls Royce. Bạn nhìn thấy người đàn bà đẹp – và ước muốn nảy sinh. Ước muốn chỉ là gợn sóng trên bề mặt – và chân lí không mở cho những người tới với nó theo cách mong manh thế. Chân lí đòi hỏi bạn trong tính toàn bộ của bạn.
Chân lí giống như đàn bà: nó muốn sở hữu bạn một cách toàn bộ. Chân lí sẽ không dung thứ cho bất kì kẻ cạnh tranh nào, nó ghen. Nếu bạn nghĩ rằng bạn có một trăm ước muốn, và một ước muốn là về chân lí, thế thì bạn không sẵn sàng cho chân lí. Khi một trăm ước muốn biến mất và chỉ một ước muốn còn lại, khi mọi ước muốn biến mất trong một ước muốn, nó trở thành abhipsa.
Nó trở thành ham muốn bùng cháy, ham muốn toàn bộ – toàn thể con người bạn bốc lửa, bắt lửa – và bạn sẵn sàng mạo hiểm bất kì cái gì và mọi thứ.
Người này nói: Tôi muốn học.
Việc học là không thể được nếu bạn đơn giản ước muốn. Điều xảy ra mọi ngày là mọi người tới tôi, họ nói về Thượng đế và thiền và thế này thế nọ, và nếu tôi không trả lời họ, ngay lập tức họ hỏi cái gì đó, nếu tôi tiếp tục nói về cái gì đó khác, trong vòng vài giây họ đã quên rằng họ đã tới để hỏi về Thượng đế. Đó chỉ là một ước muốn, ý chợt nảy ra trong tâm trí, không được bắt rễ. Bằng không, nếu bạn khát và bạn tới và bạn hỏi về nước, còn tôi nói về các thứ khác, nhưng thứ khác đó sẽ không làm dịu cơn khát của bạn; thay vì thế, ngược lại, cơn khát của bạn sẽ tăng lên trong khi tôi nói về những thứ khác. Bất kì khi nào tôi bắt đầu bạn sẽ lại nói, “Cho tôi cốc nước, tôi khát.” Và nếu tôi liên tục nói về các thứ khác trong lúc đó cơn khát của bạn sẽ tăng lên. Khi tôi lại dừng lại bạn sẽ nói, “Tôi sắp chết rồi! Cho tôi cốc nước đi!”
Nhưng bạn tới và bạn nói về Thượng đế, và bạn nói bạn muốn biết về Thượng đế, còn tôi hỏi về sức khoẻ của bạn và vợ bạn thì sao và con bạn thì sao? – và bạn đã quên mất Thượng đế. Thế rồi bạn ở lại cùng tôi trong một giờ và bạn không bao giờ nhắc bất kì cái gì về Thượng đế lần nữa.
Đó không phải là khát, đó chỉ là ước muốn vô mục đích, chỉ là ước muốn lang thang, chỉ là ước muốn vẩn vơ không có rễ trong bạn. Chỉ là gợn sóng trên bề mặt, làn gió thoảng qua. Bạn đi qua trên đường và bạn thấy một sannyasin. Áo choàng mầu cam – và một ước muốn tới trong tâm trí: bạn cũng sẽ muốn biết tính sannyas này là gì. Bạn chưa bao giờ nghĩ về nó trước đây, chưa bao giờ mơ về nó trước đây, nó chưa bao giờ là ham muốn – mỗi việc, bạn thấy một sannyasin và đột nhiên áo choàng mầu cam tạo ra ước muốn trong bạn. Làn gió thoảng qua và tạo ra gợn sóng, và bạn chắc cũng muốn giống như điều những người mầu cam điên này đang làm.
Và thiền là gì? Bạn tới tôi, và bạn hỏi về thiền. Nhưng bạn không ngụ ý điều đó. Bạn hỏi và bạn không ngụ ý điều đó. Bạn nghĩ dường như tôi có thể trao cho bạn thiền và bạn sẽ mang nó về nhà hệt như bất kì món hàng khác nào từ chợ.
Thiền sẽ cần việc chuẩn bị lâu dài. Thiền sẽ thay đổi bạn hoàn toàn.
Một người đàn bà tới tôi – cô ấy thuộc về một trong những gia đình giầu nhất ở Ấn Độ – và cô ấy nói cô ấy muốn thiền, nhưng cô ấy muốn biết, nếu cô ấy thiền, điều đó liệu có tạo ra phiền phức gì trong đời cô ấy không?
Tôi hỏi, “Bạn ngụ ý kiểu phiền phức nào?”
Cô ấy nói cô ấy có chồng và con và gia đình lớn. Nếu cô ấy thiền, điều đó liệu có tạo ra rạn nứt không? – vì chồng không quan tâm tới thiền chút nào. Không chỉ không quan tâm, anh ta còn chống lại điều đó: “Và tôi đã tới thầy mà anh ấy không biết gì. Tôi có thể thiền một cách bí mật, nhưng tôi muốn chắc chắn rằng thiền sẽ không làm rối cuộc sống gia đình của tôi theo bất kì cách nào.”
Người đàn bà khác đã đi cùng cô ấy, cô này đã đi theo cô ấy. Cô này nói, “Thầy nói gì?… vì thiền sẽ làm cho bạn tốt hơn! Bạn sẽ im lặng hơn, hạnh phúc hơn – làm sao điều đó sẽ làm rối cuộc sống của bạn? Cuộc sống của bạn sẽ trở nên tốt hơn!”
Tôi lắng nghe. Thế rồi người đàn bà này nói, “Vâng, nếu điều này là như vậy, tôi sẵn sàng.”
Tôi bảo cô ấy, “Điều này sẽ không là vậy đâu, vì dù bạn trở nên tốt hơn hay tồi hơn điều đó không tạo ra khác biệt gì: bạn thay đổi, và mối quan hệ sẽ lâm vào rối ren.”
Đôi khi tôi đã quan sát: nếu bạn trở nên tồi điều đó không ảnh hưởng tới mối quan hệ của bạn nhiều như khi bạn trở nên tốt, vì khi bạn trở nên tốt hơn bản ngã của người kia bị tổn thương nhiều hơn.
Nếu chồng bắt đầu thiền bản ngã của vợ bị tổn thương nhiều hơn – chồng cô ấy đang đi ra ngoài cô ấy, và anh ta đi xa khỏi cô ấy. Anh ta có thể trở nên im lặng hơn, tới mức khi vợ anh ta giận anh ta có thể không phản ứng – nhưng điều đó sẽ tạo ra nhiều giận hơn. Vợ sẽ nghĩ, “Anh ấy nghĩ gì về bản thân anh ấy? Anh ấy đã trở thành thánh nhân sao?”
Cô ấy sẽ cố mang bạn xuống, trở lại chỗ bạn đã ở trước đây. Giận của bạn được cô ấy biết tới nhưng im lặng của bạn là không quen thuộc, bạn có vẻ kì quái. Bạn không có vẻ giống chồng cô ấy. Bạn là người khác toàn bộ, và nếu bạn liên tục vươn lên cao hơn trong thiền, bạn trở nên ngày càng độc lập hơn – vợ cảm thấy cô ấy bị bỏ lại đằng sau. Điều đó không thể được dung thứ.
Nếu chồng trở thành người say, điều đó là được, chẳng cái gì sai mấy. Ngược lại, sâu bên dưới vợ có thể cảm thấy ổn vì cô ấy dường như tốt hơn chồng, và cô ấy có thể dạy và giảng và lên mặt dạy đời, và bất kì khi nào chồng tới, cô ấy có thể tạo ra mặc cảm trong anh ta, rằng anh ta là kẻ say – “và anh đang giết em và các con và cả gia đình! Anh đang làm gì?” Cô ấy cảm thấy thoải mái nếu bạn là xấu, vì đó bao giờ cũng là cảm giác so sánh. Người say có thể được dung thứ. Nếu chồng bắt đầu đi tới gái mãi dâm, điều đó có thể được dung thứ. Nhưng nếu chồng bắt đầu thiền, trở nên có tính tôn giáo, điều đó là không dung thứ được, không thể nào dung thứ được. Điều đó gây tổn thương, tổn thương sâu.
Tôi bảo người đàn bà này, “Cứ như tôi biết nếu bạn thiền điều đó sẽ tạo ra rắc rối. Bạn sẽ trở nên im lặng, bạn sẽ trở nên hạnh phúc, phúc lạc hơn, mãn nguyện hơn, nhưng chồng bạn sẽ cảm thấy bị bỏ lại sau. Kẽ hở sẽ nảy sinh giữa các bạn. Các mức độ sẽ trở nên khác. Bạn sẽ đi ra xa hơn.”
Thế rồi người vợ nói, “Vậy đợi đã. Thế thì tôi không muốn thiền gì cả, không cần bất kì im lặng nào, bất kì lời cầu nguyện nào, không.Tôi hạnh phúc trong đời tôi, tôi không muốn làm rối nó.”
Đây là ước muốn. Bạn muốn có cái gì đó mà không làm rối cuộc đời của bạn theo bất kì cách nào. Bạn không thể có bất kì cái gì có giá trị mà không làm rối cuộc đời của bạn theo bất kì cách nào, điều đó là không thể được. Thực ra, hiện tượng này càng lớn, rối ren sẽ càng nhiều hơn, rủi ro sẽ nhiều hơn. Nếu bạn muốn Thượng đế bạn sẽ phải mất tất cả. Nếu bạn muốn trở thành đệ tử bạn sẽ phải buông xuôi mọi thứ bạn có. Trong việc buông xuôi đó là khả năng duy nhất, khả năng của việc chuyển đổi con người.
Tôi đã từng kể đi kể lại cho bạn câu chuyện về Phật và Ma ha ca diếp, nhưng chuyện này có các nghĩa đa chiều. Chuyện kể rẳng một sáng Phật ngồi dưới cây, với một đoá hoa trong tay. Ông ấy sắp giảng pháp, và các sư đã đợi – mười nghìn khất sĩ đợi và đợi, trời mỗi lúc một nóng hơn, và mặt trời đã lên cao, còn Phật vẫn im lặng và nhìn vào đoá hoa. Thế rồi đột nhiên một đệ tử tên là Ma ha ca diếp bắt đầu cười to, tiếng cười sảng khoái.
Mọi người nhìn Ma ha ca diếp: Ông ấy có phát điên không? Sáng nay dường như là kì lạ; Phật chưa bao giờ làm điều này – ông ấy bao giờ cũng tới và nói. Hôm nay ông ấy đã tới với đoá hoa và ông ấy ngồi và nhìn đoá hoa này dường như ông ấy đã quên toàn thể mười nghìn đệ tử đang có đó.
Và thế rồi, này! Giờ lại Ma ha ca diếp này cười – và không ai đã bao giờ nghe thấy ông ta cười, ông ta là người im lặng thế. Thực ra chẳng ai đã bao giờ biết tới ông ta. Đây là lần đầu tiên ông ta đã làm cái gì đó một cách công khai. Ông ta đã im lặng thế, khiêm tốn; ông ta sống như cái bóng. Thậm chí không ai đã bao giờ cảm thấy sự hiện diện của ông ta. Ông ta tuyệt đối không năng nổ, vì khi bạn cố để cho người khác cảm thấy sự hiện diện của bạn, đó là bạo hành. Bạn đang cố thu hút sự chú ý. Người này chẳng ai biết tới. Cái gì đã xảy ra cho ông ta? Ông ta đã phát điên!
Phật nhìn, gọi Ma ha ca diếp lại gần ông ấy, đưa cho ông ta đoá hoa, và nói với ông ta, “Bất kì cái gì ta có thể cho qua lời ta đã trao cho những người khác, còn cái không thể được trao qua lời – ta trao nó cho ông, Ma ha ca diếp.”
Trong Thiền họ gọi điều đó là truyền trao bên ngoài kinh sách, truyền trao bên ngoài lời.
Cái gì đã được trao cho Ma ha ca diếp? Họ vẫn liên tục hỏi trong các Thiền viện, các Phật tử vẫn liên tục suy nghĩ về điều đó. Hai mươi nhăm thế kỉ đã trôi qua từ sáng hôm đó, và các triết gia lớn đã từng suy nghĩ về điều đó: Cái gì đã xảy ra sáng hôm đó? Cái gì đã được truyền trao? Đó đã không phải là truyền trao đoá hoa, đoá hoa chỉ là biểu tượng. Nó đã là việc truyền trao toàn thể bản thể của Phật cho Ma ha ca diếp. Không phải là Phật đã đi vào trong Ma ha ca diếp; ông ấy vẫn còn là bản thân ông ấy. Nó chỉ là thế này – bạn mang chiếc đèn đã thắp sáng lại gần chiếc đèn khác còn chưa sáng; đột nhiên ngọn lửa nhảy từ chiếc đèn đã sáng sang chiếc đèn chưa sáng. Chiếc đèn đã sáng vẫn còn như cũ, không cái gì bị mất, cho dù chút xíu, nhưng chiếc đèn mới đã đi vào hiện hữu. Đó là bước nhảy, bước nhảy về chân lí – điều đó đã xảy ra sáng hôm đó.
Phật đã trao đoá hoa như một biểu tượng. Hoa vẫn còn là biểu tượng ở Ấn Độ về việc nở hoa tuyệt đối của ý thức. Hoa sen ngụ ý khi ý thức đã nở hoa tuyệt đối, và hương thơm đã lan toả vào càn khôn. Sáng hôm đó Phật đã nhảy, ngọn lửa của Phật đã nhảy vào trong Ma ha ca diếp. Đây là cách chân lí được truyền trao.
Chỉ ước muốn về điều đó không thể giúp đỡ gì mấy. Bạn phải ham muốn nó, bạn phải ham muốn nó sâu tới mức bạn trở thành ham muốn này, chỉ là lửa, ham muốn, lửa ham muốn bùng cháy. Ở gần thầy và là ngọn lửa ham muốn bùng cháy để biết, và đột nhiên một ngày nào đó nó xảy ra: việc truyền trao bên ngoài kinh sách, việc truyền trao bên ngoài lời, việc truyền trao từ bản thể sang bản thể, không từ tâm trí sang tâm trí. Đó là điều Phật đã nói: “Bất kì cái gì có thể được nói qua lời, ta đã trao nó cho những người khác, việc truyền trao từ tâm trí qua tâm trí, và cái mà không thể được nói, ta trao nó cho ông, Ma ha ca diếp” – việc truyền trao tử bản thể sang bản thể. Những người khác là học sinh, Ma ha ca diếp là đệ tử. Ma ha ca diếp đã trở thành vị phật thứ hai.
Từ “Y như vậy”, Ch.1 Giáo huấn không thể được dạy
