Tính thiền và khoa học

Osho ơi, tính thiền và khoa học là khó hoà giải. Vậy mà vẽ bức tranh, viết bài thơ, và giải vấn đề khoa học tất cả đều mang tới cùng niềm vui. Cùng niềm vui!

Tại sao khó thế để có tính thiền và là nhà khoa học?

Tại sao không bao giờ có một xã hội mà trong đó khoa học bên trong và bên ngoài, khoa học của hoà nhã và yêu và khoa học của hung hăng và chết, sống trong hài hoà?

 

Ananda Prabhu,

Chính nỗ lực hài hoà các đối lập cực là sai – bạn sẽ không bao giờ thành công trong điều đó. Nó giống như hài hoà ngày và đêm, nó giống như hài hoà sống và chết. Bạn không cần làm hài hoà chúng, bạn chỉ phải thấy rằng chúng được hài hoà. Ngày và đêm đang di chuyển hoàn hảo theo nhịp điệu; sống và chết giống như hai cánh của sự tồn tại.

Một khi bạn thấy rằng các đối lập cực không thể tồn tại một cách tách rời, một khi bạn đã thấy rằng việc hoà giải là không được cần chút nào, rằng chúng đã được hoà hợp, rằng nhận biết sẽ giúp bạn chuyển từ cực này sang cực kia mà không có vấn đề gì. Chúng là những hiện tượng khác nhau toàn bộ – các đối lập cực, nhưng mọi đối lập cực cũng là phần bù.

Khoa học là tập trung: nó là tâm trí, nó là nỗ lực.

Thiền hay tôn giáo là thế giới khác toàn bộ: nó là thảnh thơi, nó là buông bỏ – nó không là tập trung chút nào. Nó không là nhất điểm trụ, nó là vô điểm trụ. Cho nên làm sao bạn có thể hài hoà chúng được? Làm sao bạn làm hài hoà làm việc và nghỉ ngơi? Nhưng bạn làm việc vất vả ban ngày, và ban đêm nghỉ ngơi tới theo cách riêng của nó. Bạn đã thu được nó; làm việc vất vả của bạn đem tới nghỉ ngơi.

Hoà giải về triết học là không thể được: làm việc không thể là nghỉ ngơi, nghỉ ngơi không thể là làm việc. Nếu bạn cố tạo ra sự tổng hợp bạn sẽ phá huỷ cả hai, cái đẹp của cả hai. Làm việc là làm việc, nghỉ ngơi là nghỉ ngơi. Nhưng việc được làm tốt đem tới nghỉ ngơi, và nếu bạn đã nghỉ ngơi tốt trong đêm; đến sáng bạn sẽ cảm thấy năng động, sống động, đầy năng lượng tới mức làm việc được cần tới. Nghỉ ngơi mang tới làm việc, làm việc mang tới nghỉ ngơi – nó là vòng tròn. Hoà giải đã có đó rồi: ngày mang tới đêm, đêm mang tới ngày; sống mang tới chết, chết mang tới sống. Chúng là nửa vòng tròn; với cả hai cùng nhau vòng tròn là hoàn hảo và đầy đủ. Nhưng xin đừng cố hoà giải chúng về lí thuyết, trong triết lí.

Trong sự tồn tại quan sát, và nhìn các đối lập cực đang vận hành cùng nhau như thế nào, tay trong tay, như các phần bù. Điều đó chưa được thực hiện; nhân loại còn chưa đủ chín chắn để làm điều đó mãi cho tới giờ. Mọi thứ cần thời gian đặc biệt, sự chín chắn đặc biệt để điều đó được thực hiện.

Phương Đông đã sống một cách tôn giáo – đó là một cực – và vì đã sống một cách tôn giáo, nó đã không có khả năng tạo ra khoa học. Phương Tây đã sống một cách khoa học, và vì khoa học của nó, nó đã đánh mất đường đi của tôn giáo. Bây giờ lần đầu tiên, phương Đông không còn là Đông và phương Tây không còn là Tây. Trái đất trở thành một: trái đất đang trở thành một làng toàn cầu. Đây là lần đầu tiên mà hoà giải có thể được thấy, có thể được hiểu.

Người đang đi vào trong một pha mới; ý thức mới bắt đầu hé mở. Trong ít nhất mười nghìn năm, khi có liên quan tới ý thức, không cái gì mới đã xảy ra. Đã từng có các Phật và đã từng có các Albert Einstein, nhưng chúng ta vẫn chờ đợi một Phật mà cũng là một Albert Einstein hay một Albert Einstein mà cũng là một Phật. Ngày này càng tới gần hơn. Albert Einstein trong những ngày cuối cùng của ông ấy đã rất quan tâm tới thiền, tới tôn giáo. Những ngày cuối cùng của ông ấy đã đầy ngạc nhiên. Ông ấy đã nói trong tuổi già của mình, “Tôi thường nghĩ khi tôi còn trẻ rằng sớm hay muộn mọi huyền của sự tồn tại chắc sẽ được giải, và tôi đã làm việc cần cù. Nhưng giờ tôi có thể nói rằng chúng ta càng biết nhiều hơn, sự tồn tại càng biến thành huyền hơn. Chúng ta càng biết nhiều hơn, chúng ta càng biết ít hơn và chúng ta càng trở nên nhận biết nhiều hơn về cái bao la….”

Khoa học đã không có khả năng giải huyền sự tồn tại. Bây giờ điều này được thừa nhận không phải bởi các kĩ thuật viên bình thường mà bởi các thiên tài, vì họ là những người tiên phong; họ có thể thấy bình minh rất cận kề, họ là những nhà tiên tri. Albert Einstein nói rằng khoa học đã thất bại trong việc giải huyền sự tồn tại, rằng ngược lại nó đã làm huyền mọi sự thậm chí còn nhiều hơn.

Chẳng hạn, ngày xưa điều đó đã là dễ thế, mới một trăm năm trước, để nhà khoa học nói rằng mọi thứ là vật chất. Bây giờ vật chất đã biến mất; trong tân-vật lí không có thực thể nào được gọi là vật chất. Nhà vật lí càng đi sâu vào trong thế giới vật chất, vật chất càng không được tìm thấy chút nào: nó là năng lượng thuần. Làm sao định nghĩa năng lượng bây giờ? Nó có là vật liệu không? Năng lượng không thể là vật liệu; năng lượng là cái gì đó khác với vật chất. Vật chất là tĩnh, năng lượng là động; vật chất là danh từ, năng lượng là động từ. Vật chất là đo được. Đó đích xác là nghĩa của từ ‘matter-vật chất’: nó bắt nguồn từ ‘measure-đo’, gốc ngụ ý ‘measurable-đo được’. Vật chất có thể được đo, đó là lí do tại sao nó được gọi là vật chất. Năng lượng là không đo được, nó không thể được gọi là vật chất. Và khi nhà vật lí đã đi vào trong thế giới của năng lượng, ông ấy đã trở nên ngày càng phân vân hơn; chưa bao giờ trước đây ông ấy đã bị phân vân như vậy.

Người huyền bí bao giờ cũng kính nể trước sự tồn tại. Nhà vật lí lần đầu tiên trong kính nể, vì ông ấy lần đầu tiên chạm tới cái gì đó rất sống còn bằng không ông ấy chắc đã chỉ nhìn từ bên ngoài. Đá chỉ là đá từ bên ngoài. Nhà vật lí bây giờ biết rằng đá không chỉ là đá: nó chứa các vũ trụ. Một hòn sỏi nhỏ mà bạn có thể cầm trong tay chứa nhiều năng lượng nguyên tử tới mức toàn thể vũ trụ có thể phát triển ra từ nó, chứa nhiều năng lượng nguyên tử tới mức toàn thể vũ trụ có thể bị phá huỷ bởi nó. Nó không chỉ là hòn sỏi nữa và nó không rắn nữa. Bạn đang cầm nó trong tay và bạn biết nó là rắn, nhưng việc biết của bạn không còn có tính khoa học. Nó chỉ dường như rắn; nó là lỏng. Và nó có vẻ sẵn có thể, thao tác được; bạn có thể làm nhiều thứ với nó. Nhưng bạn không biết huyền của nó, cái là không thao tác được, và huyền này thực sự là mênh mông – gần mênh mông như huyền của bản thân Thượng đế.

Nhà vật lí hiện đại đang dùng ngôn ngữ của huyền lần đầu tiên. Eddington đã nói, “Vũ trụ không còn có vẻ như một vật mà như ý nghĩ.” Điều này, từ mồm của nhà khoa học, người đoạt giải thưởng Nobel – vũ trụ có vẻ giống như ý nghĩ và không như vật sao? Điều đó ngụ ý vũ trụ nhiều ý thức hơn vật chất. Và vật chất đã được phân tích, việc thấu suốt của chúng ta đã trở nên sâu hơn; chúng ta đã bắt gặp nguyên tử, điện tử, nơ tron – và chúng ta hoàn toàn bị hoang mang, lúng túng ngay cả để diễn đạt điều chúng ta đã bắt gặp. Chúng ta không có ngôn ngữ, ngôn ngữ đúng cho nó, vì chúng ta chưa bao giờ biết nó.

Bây giờ ngôn ngữ đúng phải được tìm ra theo lời của người huyền bí: vị phật sẽ giúp ích, một Lão Tử sẽ giúp ích. Và các nhà khoa học đang nhìn vào những lời của chư phật để tìm ra ngôn ngữ đúng, vì đây là những người đã từng nói về các nghịch lí, huyền bí. Và bây giờ khoa học đang gặp phải những nghịch lí.

Nghịch lí lớn nhất là ở chỗ điện tử hành xử theo cách huyền bí tới mức nhà khoa học không có ngôn ngữ để diễn đạt nó. Nó hành xử đồng thời như hạt và như sóng. Điều này là không thể được, không thể quan niệm nổi cho tâm trí. Hoặc cái gì đó là hạt hoặc nó là sóng; cùng một thứ không thể là cả hai đồng thời.

Bạn biết hình học Euclid: hoặc cái gì đó là một điểm hoặc cái gì đó là một đường; một thứ không thể vừa là điểm đồng thời là đường. Đường ngụ ý nhiều điểm theo sau lẫn nhau tuần tự; điểm không thể vận hành như đường. Nhưng điều đó bây giờ là cách điện tử đang vận hành – đồng thời như điểm và như đường, như hạt và như sóng. Cái gì làm ra điều đó? Nói nó thế nào?

Nhà khoa học câm. Giờ ông ấy biết rằng người huyền bí, người bao giờ cũng nói theo nghịch lí, người đã từng nói Thượng đế là xa xôi và rất cận kề, phải đang nói cái gì đó qua kinh nghiệm riêng của họ. Người huyền bí thường nói rằng sống và chết là một, không phải hai, vì lần đầu tiên điều đó trở thành liên quan tới tâm trí của nhà khoa học. Một khoa học mới đang nảy sinh, điều này gọi là khoa học về bất định. Không còn chắc chắn nữa! Chắc chắn dường như là quá thô.

Mahavira, hai mươi nhăm thế kỉ trước, đã thường làm các phát biểu của mình với ‘có lẽ’. Nếu bạn hỏi ông ấy, “Có Thượng đế không?” ông ấy chắc sẽ nói, “Có lẽ.” Vào những ngày đó điều đó chẳng được hiểu chút nào – vì làm sao bạn có thể nói, “Có lẽ”? Hoặc Thượng đế có hoặc không. Điều đó dường như là đơn giản thế và logic thế: “Nếu có Thượng đế, có Thượng đế; nếu ngài không có, ngài không có. Ông ngụ ý gì bởi ‘có lẽ’?”

Bây giờ điều đó có thể được hiểu. Mahavira đã dùng cùng ngôn ngữ trong tôn giáo mà đã được Albert Einstein dùng trong vật lí. Albert Einstein gọi nó là thuyết tương đối. Mahavira đã gọi triết lí của ông ấy là cùng một điều: sapekshawad – thuyết tương đối. Không cái gì là chắc chắn, mọi thứ là linh động, lưu động. Khoảnh khắc bạn đã nói cái gì đó, nó không còn là cùng thứ đó. Mọi vật không tồn tại, Mahavira nói, nhưng chỉ có các biến cố.

Đó là điều khoa học hiện đại đang nói, rằng không có vật nào trên thế giới, mà chỉ có các biến cố. Và chúng ta không thể nói được bất kì cái gì một cách tuyệt đối, chúng ta không thể nói, “Cái này là vậy.” Bất kì khi nào ai đó nói một cách tuyệt đối, “Cái này là vậy,” người đó đang hành xử ngu xuẩn. Trong quá khứ người đó được coi là người hiểu biết; người đó càng chắc chắn, người ta càng tưởng rằng người đó biết. Người không chắc chắn, người do dự, bị coi là dốt.

Đó là lí do tại sao Mahavira đã không thể ảnh hưởng rất nhiều lên thế giới; ông ấy đã tới quá sớm, ông ấy đã tới trước thời đại của ông ấy. Bây giờ mới là thời cho ông ấy – bây giờ ông ấy sẽ được hiểu bởi các nhà khoa học, bởi người thông minh nhất trên thế giới. Nhưng ông ấy đã nói cho mọi người, quần chúng bình thường, những người đã không thể hiểu được syadawad của ông ấy – cách nghĩ có lẽ của ông ấy. Mọi người muốn biết chắc chắn: “Có Thượng đế không?” Và Mahavira sẽ nói, “Có lẽ. Vâng – theo một cách nào đó điều đó có thể được nói có, và theo cách khác nó có thể được nói không. Và cả hai là cùng đúng, đồng thời.”

Bây giờ thời đã tới. Ananda Prabhu, đừng cố hoà hợp mọi sự – điều đó sẽ là hiện tượng giả. Chỉ quan sát, chỉ nhìn sâu vào mọi vật như chúng vậy. Chúng đã được hoà hợp rồi; không có xung đột trong sự tồn tại. Mọi mâu thuẫn là phần bù.

 

Bạn nói: Tính thiền và khoa học là khó hoà hợp.

 

Nếu bạn cố hoà hợp chúng điều đó không chỉ là khó mà còn là không thể được. Điều đó không thể được làm. Bạn sẽ phát điên – chính nỗ lực hoà hợp chúng sẽ đưa bạn tới mất trí. Tránh nỗ lực như vậy. Thay vì thế, ngược lại, đơn giản quan sát.

Sống là nghịch lí. Nó đã là việc tổng hợp của các nghịch lí; các cái đối lập đã gặp gỡ trong nó. Mọi điều chúng ta cần là ý thức tựa gương tinh khiết, để cho với bất kì sự sống nào nó được phản xạ. Và bạn sẽ thấy trong việc phản xạ đó sự gặp gỡ của các cái đối lập: gặp gỡ của Đông và Tây, gặp gỡ của tôn giáo và khoa học.

 

Bạn nói: vậy mà vẽ tranh, làm thơ, và giải vấn đề khoa học tất cả đều đem lại cùng niềm vui. Cùng niềm vui!

 

Vâng, chúng có thể đem lại – vì nghệ thuật ở ngay giữa cả hai, khoảng cách bằng nhau từ tôn giáo và khoa học. Nghệ thuật có phẩm chất của cả hai. Một mặt của nghệ thuật mang tính khoa học, mặt công nghệ. Do đó nhà khoa học có thể vẽ và tận hưởng việc vẽ, và sẽ có cùng niềm vui; và người huyền bí cũng có thể vẽ và sẽ có cùng niềm vui như trong cầu nguyện, như trong thiền – mặc dầu cả hai đang làm cùng điều, việc vẽ của người huyền bí sẽ là khác toàn bộ với việc vẽ của nhà khoa học.

Bạn có thể nhìn: hội hoạ hiện đại ở phương Tây đang chịu ảnh hưởng quá nhiều của công nghệ. Nó đã mất cái đẹp; nó không còn giúp đỡ trong việc mang bạn tới sự hiện diện thiêng liêng đang thấm đẫm sự tồn tại. Ngược lại, nó đơn giản phản xạ tâm trí điên của người. Nhìn vào hội hoạ phương Tây bạn sẽ cảm thấy chóng mặt, buồn nôn, mửa.

Các Thiền sư cũng đã vẽ nhưng bức hoạ của họ là khác toàn bộ. Quan sát bức hoạ có tính thiền bạn sẽ cảm thấy được nâng lên; một cảm giác về niềm vui tinh tế sẽ dâng lên trong bạn. Bạn chắc sẽ muốn múa hay hát hay thổi sáo. Bức hoạ Thiền tới từ phía bên kia, phía của người huyền bí. Picasso, Dali, và những người khác tới từ phía khoa học. Bây giờ, không có tương tự giữa bức hoạ Picasso và bức hoạ của Thiền sư, không có sự tương tự. Chúng là hai thế giới khác toàn bộ, và lí do là ở chỗ các hoạ sĩ là khác nhau.

Vâng, Ananda Prabhu, bạn có thể cảm thấy cùng niềm vui trong vẽ, làm thơ, và giải vấn đề khoa học. Nó toàn là tâm trí. Việc giải vấn đề khoa học là tâm trí; thơ của bạn cũng sẽ ít nhiều có tính toán học, logic. Nó sẽ chỉ có hình dạng của thơ ca nhưng linh hồn của nó sẽ là văn xuôi.

Đó là lí do tại sao ở phương Tây thơ ca đang chết, hội hoạ đã trở thành xấu, điêu khắc không còn là đại diện của tự nhiên. Cái gì đó đang mất đi vô cùng nhiều: linh hồn, chính linh hồn của nghệ thuật đang mất đi. Xem bức hoạ Thiền bạn sẽ được tràn ngập; cái gì đó từ cõi bên kia sẽ bắt đầu trút lên bạn.

 

Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.1 Luôn trên đá

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Notice: ob_end_flush(): failed to send buffer of zlib output compression (0) in /home/nhoshn0t/public_html/wp-includes/functions.php on line 5493