Sự sống là mâu thuẫn

Osho ơi, tôi biết rằng thầy yêu thích các mâu thuẫn. Nhiều điều về mâu thuẫn tôi có thể chấp nhận bây giờ như hai mặt của một đồng tiền. Nhưng hôm nay sau bài giảng một số câu hỏi vẫn nảy sinh.

Một mặt thầy nói tốt và xấu là hai mặt của cùng một đồng tiền và cả hai phải hiện hữu và cái này không thể hiện hữu mà không có cái kia. Mặt khác thầy muốn tạo ra một thế giới tốt hơn với các sannyasin của thầy.

Một mặt thầy bảo chúng tôi không nghĩ dưới dạng tương lai. Mặt khác thầy nói về thế chiến thứ ba đang tới.

Một mặt thầy bảo chúng tôi không ao ước bất kì cái gì. Mặt khác dường như thầy muốn né tránh thế chiến thứ ba.

Một mặt thầy nói mọi thứ là được như chúng vậy, không có mục đích, không có gì để đạt tới, để thay đổi. Mặt khác: Thầy đang làm gì ở đây? Chúng tôi đang làm gì ở đây?

Tôi có thể cảm thấy có câu trả lời, nhưng tôi không thể chỉ rõ nó ra. Thầy có thể chỉ ra được không?

 

Anand Suresh,

Không phải là tôi yêu thích mâu thuẫn: sự sống là mâu thuẫn. Bản thân sự tồn tại là có thể có chỉ thông qua mâu thuẫn. Chính tâm trí đã được huấn luyện theo logic Aristotle trở thành bị quấy rối vì mâu thuẫn. Logic Aristotle cho bạn tâm trí tuyến tính, tâm trí một chiều. Nó nói: A chỉ có thể là A và không bao giờ có thể là B, và B chỉ có thể là B và không bao giờ có thể là A, và trong hai nghìn năm tâm trí chúng ta đã bị ước định bởi logic này.

Logic này không bao giờ có bất kì thống trị nào trên những người huyền bí, và bây giờ ngay cả các nhà khoa học cũng đang thoát khỏi nhà tù Aristotle. Nếu bạn muốn là thực với sự sống, bạn không thể là người đi theo Aristotle; là thực với sự sống bạn sẽ phải nói mọi điều như chúng vậy. Nếu bạn muốn là thực với Aristotle thế thì bạn sẽ phải kìm nén vài điều của sự sống, ít nhất là né tránh, không nhìn vào chúng, chỉ chọn cái phù hợp với logic của bạn.

Toàn thế giới đã tồn tại mãi cho tới giờ theo logic một chiều – và sự tồn tại là đa chiều, nó được bắt rễ trong mâu thuẫn. Thực ra, gọi nó là mâu thuẫn thì lại là dùng lời từ Aristotle.

Người huyền bí dùng từ ‘nghịch lí’, không dùng từ ‘mâu thuẫn’. Trong chính từ ‘mâu thuẫn’ có sự kết án: cái gì đó sai, cái gì đó phải được đặt cho đúng. Nhưng nghịch lí là hiện tượng khác toàn bộ: không cái gì phải được đặt cho đúng. Nghịch lí là huyền, khó nắm bắt, không giải thích được.

Sự tồn tại là huyền. Toán học không có năng lực hiểu nó; tâm trí hoàn toàn bất lực trong việc hiểu nó, vì tâm trí chỉ biết một cách. Cách của Aristotle là cách của tâm trí. Và bất kì ai biết sự sống đều biết rằng Aristotle đã là thảm hoạ, lớn nhất đã bao giờ tồn tại trên thế giới. Và ông ấy là cha đẻ của triết học hiện đại, cha của khoa học hiện đại! Nhưng có những vùng lên chống lại ông ấy. Những người huyền bí bao giờ cũng vùng lên, bây giờ các nhà vật lí đang vùng lên.

Theo Aristotle không có huyền: mọi thứ là giải thích được theo logic – đó là nguyên lí nền tảng của ông ấy. Và nguyên lí nền tảng của tôi là: mọi thứ là không giải thích được theo logic. Nếu bạn cố giải thích sự sống theo logic bạn phá huỷ sự sống.

Dường như để giải thích cái đẹp của hoa hồng bạn đem hoa hồng tới nhà hoá học để mổ xẻ nó, để phân tích nó, và để tìm ra cái đẹp ở đâu. Nhà hoá học có năng lực phân tích hoa hồng, nhưng ông ấy sẽ chỉ tìm thấy các hoá chất, không thấy cái đẹp. Cái đẹp sẽ bay hơi. Cái đẹp đã ở trong nghịch lí của hoa hồng. Nó phải không hiện hữu theo logic – do đó logic là rất mù.

Vấn đề của bạn, Suresh, là ở chỗ bạn khổ từ các môn đồ của Aristotle. Đó là một trong những bệnh bắt rễ sâu nhất.

 

Bạn nói: Tôi biết rằng thầy yêu thích mâu thuẫn.

 

Không phải là tôi yêu thích mâu thuẫn. Tôi có thể làm được gì? Mâu thuẫn có đó! Nếu tôi phải là thực với tính toàn bộ của sự tồn tại thì tôi phải yêu chúng, bằng không cái gì đó sẽ phải bị phủ nhận. Và khoảnh khắc bạn phủ nhận cái gì đó bạn bỏ lỡ cái gì đó cực kì có giá trị, và việc phủ nhận này sẽ không bao giờ cho phép bạn biết cái toàn thể. Và chỉ cái toàn thể là thực; bộ phận chỉ là bộ phận. Chúng có nghĩa nào đó chỉ trong hoàn cảnh của cái toàn thể; trong bản thân chúng, chúng là vô nghĩa.

Đó là lí do tại sao khoa học đã tạo ra vô nghĩa lớn trên thế giới. Điều đó nhất định xảy ra; nó là sản phẩm phụ của phương pháp luận khoa học. Khoa học cố giải thích mọi thứ một cách rõ ràng, không mơ hồ; nó muốn thu mọi thứ thành các phân loại rõ ràng. Và nó đã thành công, nhưng trong thành công của nó, người và linh hồn của người đã thất bại.

Thành công của khoa học được bắt rễ trong Aristotle, nhưng thất bại của người – thất bại của niềm vui của người, thất bại của yêu của người, thất bại của năng lực của người để hát, múa và mở hội – cũng được bắt rễ trong Aristotle. Nhưng có dấu hiện rõ ràng về vùng lên, đặc biệt trong vòng ba mươi, bốn mươi năm qua – nhiều nhà khoa học lớn đã vùng lên chống Aristotle. Người đầu tiên vùng lên là Albert Einstein.

Aristotle chính là người theo chủ nghĩa tuyệt đối: A tuyệt đối là A và không bao giờ là B, đàn ông tuyệt đối là đàn ông và không bao giờ là đàn bà. Ông ấy tin vào cái tuyệt đối, còn Einstein mang tới ý tưởng về tính tương đối. Ông ấy nói cái tuyệt đối không tồn tại; chỉ có những vật tương đối. Đàn ông là tương đối, nhiều tính đàn ông hơn tính đàn bà và đàn bà là tương đối nhiều tính đàn bà hơn tính đàn ông, nhưng vấn đề không phải là sự phân biệt tuyệt đối – chúng chờm lấp. Và bạn có thể là đàn ông buổi sáng và bạn có thể không là đàn ông buổi tối; bạn có thể là đàn bà buổi tối và bạn có thể không là đàn bà buổi sáng. Bạn không là một bên, bạn có thể có nhiều bên.

Bạn không thấy đàn bà đang giận sao? Thế thì cô ấy nhiều tính nam hơn bất kì người nam nào. Và bạn không thấy đàn ông khi anh ta đang trong yêu sao? – sự dịu dàng của anh ta, nữ tính của anh ta. Anh ta nhiều nữ tính hơn bất kì đàn bà nào đã bao giờ có thể vậy. Khi đàn bà đang giận, phát rồ, toàn thể phần phủ nhận của cô ấy bắt đầu vận hành, và phần bị phủ nhận là rất quan trọng và sống động vì nó không bao giờ được dùng.

Tôi đã nghe một câu chuyện tương lai:

 

Một người đi vào bệnh viện để mua não; vì não riêng của anh ta không làm việc tốt, anh ta muốn thay thế nó. Nhà giải phẫu đưa anh ta đi xem quanh; có nhiều não sẵn có. Ông ta chỉ cho anh ta não của nhà khoa học, giá chỉ một trăm rupi; não của nhà toán học lớn, nổi tiếng, rất được biết tới, và giá chỉ hai trăm rupi; và não của tướng lĩnh lớn, và giá chỉ ba trăm rupi – cứ tiếp tục như vậy. Và thế rồi anh ta đi tới não của người lãnh đạo chính trị lớn, và giá là mười nghìn rupi!

Khách hàng có hơi chút phân vân. Anh ta nói, “Ông ngụ ý gì? Ông ngụ ý rằng chính khách có não lớn hơn nhà khoa học lớn được giải thưởng Nobel sao?”

Nhà giải phẫu nói, “Xin đừng hiểu lầm chúng tôi. Không phải là chính khách có não lớn hơn nhà khoa học hay tướng lĩnh hay nhà toán học hay nhà thơ, nhưng đây là não chưa bao giờ được dùng. Nó mới toanh, do đó mới có giá đó!”

 

Bất kì cái gì không được dùng và bị phủ nhận trong bạn vẫn còn rất sống động. Do đó đàn bà phát rồ là nguy hiểm hơn nhiều so với đàn ông; và nếu bạn đã ở trong quan hệ với đàn bà bạn biết điều đó hoàn toàn rõ – cô ấy có thể làm cho bạn phát điên! vì đó là phần bị phủ nhận, phần không được dùng. Khi nó được dùng nó có sức sống, tính mới. Và khi đàn ông dịu dàng, yêu thương, anh ta dịu dàng và yêu thương hơn đàn bà. Anh ta có thể nhiều tính đàn bà hơn vì đó là phần bị phủ nhận của anh ta.

Carl Gustav Jung đã chấp nhận rằng người là lưỡng dục: không đàn ông nào đơn giản là đàn ông và không đàn bà nào đơn giản là đàn bà. Đàn ông có phần đàn bà, phần rất bản chất, và đàn bà có đàn ông bên trong cô ấy, rất bản chất. Bây giờ đây là thế giới khác toàn bộ: các phân loại cũ mất nghĩa, các cái tuyệt đối cũ biến mất.

Và thế rồi tới lí thuyết bất định – vì mãi cho tới giờ khoa học đã chỉ nhận biết về thế giới vật chất bề ngoài. Nó đã không xuyên thấu vào trong huyền của vật chất như người huyền bí đã làm trong thế giới bên trong; họ đã xuyên thấu vào trong các huyền của ý thức. Và khi họ xuyên thấu, những người huyền bí về ý thức trở nên nhận biết rằng nó không có tính Aristotle chút nào. Đôi khi A là A và đôi khi A là B; và không chỉ có thế – rằng đôi khi A là B – có lúc mà A là cả A và không là A đồng thời.

Mahavira đã nói điều đó; triết lí của ông ấy được biết là saptabhangi – bẩy đường. Ông ấy phải đã dường như là người rất kì lạ. Bạn hỏi một câu hỏi và ông ấy bao giờ cũng trả lời một câu hỏi của bạn bằng bẩy câu trả lời, vì triết lí của ông ấy là bẩy đường. Ông ấy nói, “Ta đã dần thấy ra bẩy mặt của thế giới bên trong.” Bạn hỏi ông ấy, “Thượng đế có tồn tại không?” và ông ấy sẽ nói, “Thứ nhất: có lẽ ngài tồn tại. Thứ hai: có lẽ ngài không tồn tại. Thứ ba: có lẽ ngài tồn tại và vậy mà không tồn tại. Và thứ tư: có lẽ ngài không tồn tại mà cũng không không tồn tại. Ông ấy sẽ cho bạn bẩy câu trả lời. Bạn sẽ rời khỏi ông ấy còn bị lẫn lộn hơn khi bạn tới. Đó là lí do tại sao ông ấy đã không thể ảnh hưởng được tới nhiều người. Tôn giáo của ông ấy vẫn còn là tôn giáo nhỏ nhất mặc dầu nó có tiềm năng trở thành một trong những tôn giáo lớn nhất của thế giới.

Nhưng bây giờ thời của Mahavira đang tới: Albert Einstein đã làm đường cho nó. Khi nhà vật lí vào sâu hơn trong huyền của vật chất, ông ấy rất phân vân – Aristotle không còn tác dụng nữa, không giúp được thêm. Ngược lại, nếu bạn vẫn còn bị buộc vào Aristotle bạn phải phủ nhận vài thứ mà bạn không thể phủ nhận – chúng có đó!

Chẳng hạn: vật chất không tồn tại ở mức sâu nhất của vật chất; vật chất chỉ là biểu hiện bề ngoài, nó là maya. Shankara đã nói điều đó hàng nghìn năm trước: nó là ảo tưởng. Với ‘ảo tưởng’ ông ấy không ngụ ý rằng nó không tồn tại; bởi ‘ảo tưởng’ ông ấy đơn giản ngụ ý nó dường như tồn tại – cái gì đó khác tồn tại. Đừng bị lừa bởi dáng vẻ. Và nhà khoa học thấy bản thân ông ấy đi nhiều vào trong thế giới của Shankara hơn là vào thế giới của Aristotle. Vật chất biến mất, chỉ có năng lượng – năng lượng di chuyển nhanh tới mức bạn không thể thấy được chuyển động của nó và nó cho bạn ý tưởng về vật chất rắn.

Không cái gì là rắn, mọi thứ là lỏng. Và khi không có gì rắn, từ ‘lỏng’ có thể có nghĩa gì? Thế thì vấn đề mới nảy sinh: nếu không có gì rắn, bạn ngụ ý gì bởi ‘lỏng’? Lỏng có nghĩa chỉ trong tham chiếu tới rắn; khoảnh khắc tính rắn biến mất, tính lỏng biến mất… và bạn lặng người, trong kính sợ.

Duy nhất năng lượng hiện hữu, và cách thức của năng lượng là rất nghịch lí, rất huyền. Một hạt năng lượng nhảy từ chỗ này sang chỗ khác; nó liên tục tích tụ. Nó đang lấy bước nhảy lượng tử. Thuật ngữ ‘bước nhảy lượng tử’ bắt nguồn từ quanta. ‘Quanta’ nghĩa là hạt năng lượng tối thượng, và ‘bước nhảy lượng tử’ nghĩa là bước nhảy rất khác với điều bạn hiểu từ ‘bước nhảy’.

Khi hạt năng lượng tối thượng nhảy từ chỗ A sang B hiện tượng này là rất huyền: nó đơn giản biến mất khỏi A và xuất hiện ở B và bạn không thể nào tìm thấy nó ở bất kì đâu trong khoảng giữa. Bạn tới từ chỗ của bạn tới tôi; bạn sẽ được tìm thấy ở giữa. Làm sao bạn có thể nhảy từ chỗ của bạn tới chỗ của tôi? Cho dù bạn nhảy, bạn sẽ phải đi qua. Cho dù bạn lấy máy bay nhanh nhất, dầu vậy bạn sẽ ở giữa. Nhưng hạt tối thượng của vật chất đơn giản biến mất từ chỗ này và xuất hiện ở chỗ khác và bạn không thể tìm thấy nó ở giữa chút nào. Bây giờ cái gì làm ra điều đó? Nó đáng phải không như vậy, nhưng nó là như vậy.

Đầu tiên nhà khoa học nghĩ, “Chúng ta phải bỏ lỡ nó – có thể chúng ta không có công cụ đủ phức tạp. Làm sao nó thể vậy?” Cụ Aristotle cổ đã ám ảnh họ: “Nó phải ở đâu đó ở giữa.” Nhưng bây giờ chúng ta có những công cụ phức tạp hơn – nó đơn giản biến mất. Nó trở thành không biểu lộ ở chỗ này và trở thành lại biểu lộ ở chỗ khác. Điều xảy ra ở giữa thì không cái gì có thể được biết tới, vì nó trở thành không biểu lộ; nó đơn giản biến mất khỏi sự tồn tại. Nó đi vào trong chiều khác toàn bộ mà còn không được biết tới chút nào và có thể không bao giờ được biết chút nào, vì nó là cái không thể được biết.

Và điều bao giờ cũng đã được nghĩ, theo Aristotle và Euclid, là điểm không bao giờ có thể là đường. Điều đã được các nhà vật lí tìm ra là điểm có thể là cả hai đồng thời: nó có thể là hạt và sóng, nó có thể là điểm và đường. Hình học Euclid thường nói – bạn phải đã đọc về nó ở trường rồi – rằng hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau. Bây giờ có cái gì đó giống như hình học phi Euclid lại nói chúng có gặp nhau. Vậy thì nên hiểu điều đó như thế nào? Hình học Euclid nói rằng bạn có thể vẽ một đường thẳng: đường thẳng là khoảnh cách ngắn nhất giữa hai điểm – một định nghĩa nổi tiếng, mọi học sinh đều biết về nó. Nhưng hình học phi Euclid đã tới với lực lớn và đang thay đổi toàn thể tiến trình tư duy khoa học.

Hình học phi Euclid nói bạn không thể vẽ được đường thẳng chút nào; vẽ đường thẳng là không thể được. Tại sao? – vì bạn ngồi trên trái đất, trái đất tròn. Cho nên bất kì cái gì bạn vẽ, nó dường như thẳng vì bạn không biết rằng bạn đang ngồi trên hình cầu tròn. Liên tục vẽ đường thẳng, liên tục vẽ đường, và bạn sẽ sớm thấy rằng nó trở thành vòng tròn, vì nó sẽ che phủ toàn thể trái đất. Và đường thẳng không thể là một phần của đường tròn, hiển nhiên; nếu nó là một phần của đường tròn thì nó không thẳng. Không đường thẳng nào có thể tạo ra đường tròn, nhưng mọi đường thẳng mà bạn biết, nếu được vẽ tới cái tối thượng của nó, sẽ trở thành một phần của đường tròn. Thế thì nó là đường tròn, không là đường thẳng.

Và toàn thể vũ trụ có tính tròn. Toàn thể vũ trụ, mọi chuyển động, có tính tròn; mọi thứ là vòng tròn. Đường thẳng là không thể được; chúng là đường tưởng tượng.

Những người huyền bí bao giờ cũng nói theo nghịch lí; bây giờ các nhà vật lí đang nói theo nghịch lí. Và lí do là cùng một: người huyền bí đi vào thực tại qua bản thể của họ và bắt gặp điều huyền bí; các nhà vật lí bắt gặp cùng thực tại từ cửa kia – cửa hướng ra ngoài.

Tôi không yêu thích mâu thuẫn – chúng không thể giúp gì. Sự tồn tại là nghịch lí.

 

Bạn nói: Nhiều điều về mâu thuẫn tôi có thể chấp nhận bây giờ như hai mặt của một đồng tiền.

 

Điều đó lại là tàn tích từ Aristotle. Tôi phải nói với bạn nhiều lần, chỉ không để quấy rối bạn quá nhiều quá sớm, rằng đây là hai mặt của cùng một đồng tiền. Thế thì nó trở thành chấp nhận được chút ít cho bạn. Bạn có thể chấp nhận rằng một đồng tiền có thể có hai mặt và chúng phải đối mặt theo các hướng đối lập. Bạn có thể chấp nhận phủ định và khẳng định, bạn có thể chấp nhận đêm tối và ngày sáng, bạn có thể chấp nhận sống và chết, là hai mặt của một đồng tiền. Nhưng khi tôi dùng sự tương tự với đồng tiền tôi không thực sự là đúng với thực tại; tôi đang thoả hiệp – thoả hiệp với tâm trí Aristotle của bạn.

Sớm hay muộn, khi bạn trở nên quen thuộc nhiều hơn, khi bạn bắt đầu thấy tính nghịch lí, tôi sẽ không nói với bạn rằng chúng là hai mặt, hai phía của một đồng tiền. Phủ định là khẳng định và khẳng định là phủ định. Sống và chết không phải là hai mặt của một đồng tiền – sống chết. Nhưng điều đó sẽ là khó chấp nhận hơn một chút, mặc dầu chân lí là như vậy. Ngày bạn được sinh ra bạn đã bắt đầu chết. Quá trình này có thể được hoàn thành trong bẩy mươi năm, đó là chuyện khác – điều đó cần thời gian – nhưng thời gian không thành vấn đề. Ngày bạn được sinh ra bạn đã bắt đầu chết – ngay lập tức. Nó không phải là phía bên kia của đồng tiền, nó là cùng phía của đồng tiền. Sống là chết, và ngày là đêm, và yêu là ghét, và tình bạn là thù địch. Thế thì nó trở nên khó hơn.

Nhưng nếu tôi nhìn vào khó khăn của bạn, thế thì tôi không thể đưa bạn vào thế giới của chân lí. Tôi phải thuyết phục bạn dần dần, cho nên đầu tiên tôi nói, “Có hai mặt của cùng một đồng tiền.” Ngày tôi cảm thấy rằng bây giờ bạn thực sự chấp nhận nghịch lí mà không hỏi tôi sẽ nói, “Sống là chết.” Tôi sẽ không nói rằng Thượng đế và Quỉ là hai mặt cả cùng một năng lượng, tôi sẽ nói Thượng đế Quỉ – hai cái tên của cùng một năng lượng, không phải là hai mặt.

 

 

Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.7 Cám ơn lời khen

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Notice: ob_end_flush(): failed to send buffer of zlib output compression (0) in /home/nhoshn0t/public_html/wp-includes/functions.php on line 5581