Tin vào Thượng đế

Thầy có tin vào thầy không?

Thầy có tin vào Thượng đế không?

Thượng đế là ai?

 

Không, tôi không tin vào tôi… Tôi không thể tin được, vì tôi không có. Không có người nào để tôi được tin vào, và không có người nào để tin vào điều đó nữa.

Nếu bạn tin vào bản thân bạn, bạn tin vào ảo tưởng. Chính niềm tin đó sẽ ngăn cản bạn khỏi biết thực tại.

Một khi bạn bắt đầu tin vào ảo tưởng, bạn bắt đầu mất tiếp xúc với cái thực. Để biết cái thực, mọi ảo tưởng phải bị bỏ đi – và ảo tưởng lớn nhất là bản ngã, cái ‘tôi’. Bạn hỏi tôi:

 

Thầy có tin vào thầy không?

 

Không, không chút nào. Đó là lí do tại sao tôi có khả năng biết.

Bạn hỏi:

 

Thầy có tin vào Thượng đế không?

 

Lại không – vì tin vào Thượng đế không phải là biết Ngài. Tin bao giờ cũng từ dốt. Những người không biết, họ tin. Nếu bạn biết, phỏng có ích gì mà tin? Khi bạn biết, bạn biết!

Bạn không tin vào mặt trời buổi sáng. Bạn không tin vào cây và vào núi. Bạn không cần tin! Bạn biết mặt trời có đó. Bạn biết mọi người có đó, bạn biết cây có đó. Không có vấn đề về tin. Tại sao bạn tin vào Thượng đế? Vì bạn không biết.

Bạn thay thế việc biết của bạn bằng niềm tin. Bạn che giấu dốt của bạn đằng sau niềm tin. Niềm tin cho bạn việc giả vờ biết. Mọi niềm tin đều giả vờ. Mọi niềm tin là lừa dối. Bạn lừa ai? Bản thân bạn bị lừa.

Khi một người nói, “Tôi tin vào Thượng đế,” anh ta đang nói anh ta đã không có khả năng biết Thượng đế – đó là mọi điều anh ta đang nói. Anh ta không đủ mạnh để nói điều đó theo cách đó. Anh ta không đủ mạnh để nhìn dốt riêng của anh ta và chấp nhận điều đó. Do đó, anh ta nói, “Tôi tin vào Thượng đế!” Cần gì tin vào Thượng đế nếu bạn biết?

Việc biết không bao giờ trở thành niềm tin. Việc biết vẫn còn là việc biết. Dốt cố trở thành niềm tin. Bao giờ cũng nhớ: bất kì khi nào bạn tin, đó chỉ là để che giấu dốt của bạn. Niềm tin cho việc biết rẻ tiền.

Tôi không tin vào Thượng đế – vì bất kì mối quan hệ nào của niềm tin đều là mối quan hệ sai. Tôi biết Thượng đế… nhưng để biết Thượng đế yêu cầu duy nhất là ở chỗ tôi phải không có. Khoảnh khắc bạn biến mất, Thượng đế xuất hiện. Chỉ khi bạn đủ rộng lớn chứa Ngài, khi bạn không còn đó chiếm không gian bên trong – thực ra, không hiện diện của bản thân bạn là hiện diện của Thượng đế.

Nhớ: bạn sẽ không bao giờ gặp Thượng đế. Bạn không thể gặp được, vì gặp gỡ sẽ có nghĩa bạn là thực và Thượng đế cũng là thực – thế thì sẽ có hai thực tại, không phải một. Và thực tại là một. Nếu bạn hiện hữu, Thượng đế không thể hiện hữu. Nếu Thượng đế hiện hữu, bạn không thể hiện hữu. Và điều thứ ba bạn hỏi:

 

Thượng đế là ai?

 

Thượng đế không là ‘ai’, Ngài không phải là người. Thượng đế là cái toàn bộ, tổng cộng của toàn thể sự tồn tại. Thượng đế không là ai đó: Thượng đế là ‘tính tất cả’.

Tôi là Thượng đế, bạn là Thượng đế – mọi người là Thượng đế, tất cả là Thượng đế. Thực ra, dùng từ ‘Thượng đế’ là không đúng. Có tính thượng đế và không có Thượng đế chút nào. Để thực sự là đúng với thực tại, ‘tính thượng đế’ là từ đúng để dùng, không phải ‘Thượng đế’. Khoảnh khắc bạn nói ‘Thượng đế’, nhiều điều nảy sinh từ lời đó….

Thứ nhất: Thượng đế trở thành người – và Thượng đế không là người. Thượng đế là sự tồn tại vô nhân; Thượng đế là ‘tính người’ vô nhân. Một khi bạn nói ‘Thượng đế’, Thượng đế trở thành ‘ông ấy’ – đó là tính trọng nam khinh nữ, điều đó là xấu. Thượng đế không là ‘ông’ không là ‘bà’. Và nếu bạn quyết định dùng ‘ông’ hay ‘bà’, thế thì ‘bà’ là tốt hơn nhiều – vì ‘bà’ bao gồm cả ‘ông’, nhưng ‘ông’ không bao gồm ‘bà’. ‘Bà’ là lớn hơn nhiều – một cách tự nhiên là như vậy. Đàn ông được sinh ra từ đàn bà. Đàn bà có thể chứa đàn ông, đàn ông không thể chứa đàn bà. Đàn ông không có bụng mẹ để chứa bất kì cái gì.

 

Nhưng cả hai là sai. Thượng đế không là đàn ông không là đàn bà, vì Ngài không là người chút nào.

Thế thì Thượng đế là gì? Đừng hỏi ‘Thượng đế là ai?’ hỏi ‘Thượng đế là gì?’ Sự sống là Thượng đế. Yêu là Thượng đế. Ánh sáng là Thượng đế. Đó là kinh nghiệm mang tính tồn tại. Bạn không bao giờ bắt gặp Thượng đế như một đối thể. Bạn bắt gặp tính thượng đế – như sự bột phát bên trong. Cái gì đó nở hoa trong bạn… và bạn thậm chí không thể tìm ra hoa, chỉ có hương thơm. Thượng đế không là hoa nhưng là hương thơm.

 

Tôi không thể chỉ ra Thượng đế ở đâu, Thượng đế là ai. Tôi đơn giản có thể kể ra kinh nghiệm hương thơm của tôi cho bạn.

Sự tồn tại đầy tính thượng đế. Mọi thứ là thiêng liêng – hoa, chim, đá, sông…. Không phải là bạn phải tạo ra đền cho Thượng đế và nhà thờ cho Thượng đế – điều đó là ngu, vì Thượng đế ở mọi nơi! Bạn đang tạo ra đền và nhà thờ và nhà thờ hồi giáo cho ai? Nếu bạn muốn cầu nguyện, bạn có thể cầu nguyện ở bất kì đâu. Bất kì chỗ nào bạn cúi lạy, bạn cúi lạy Thượng đế, và không cái gì khác tồn tại.

Bạn sẽ phải hiểu ngôn ngữ của tôi. ‘Tin’ là từ bẩn ở đây. Và với tin bạn bị ngăn cản khỏi việc biết; bạn không được giúp đỡ. Và chính vì tin mà người bị phân chia. Nó đã không giúp cho trưởng thành tâm linh của người; nó đã là một trong những rào chắn lớn nhất. Chính tin làm phân chia bạn như người Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét giáo. Chính tin phân chia thế gian. Chính tin tạo ra chiến tranh.

Khoảnh khắc bạn tin, bạn không còn là một với nhân loại: bạn là người Ki tô giáo hay người Hindu hay người Mô ha mét giáo. Bạn đã đi sang xấu, bạn bị đầu độc! Và giờ bạn sẽ liên tục tranh đấu vì niềm tin của bạn. Và tất cả những người này tranh đấu cho niềm tin của họ đều là người mù tranh đấu cho niềm tin của họ trong sáng – và không ai biết sáng là gì. Tôi đã nghe:

 

Cảnh sát đang bước đi trên đường tuần tra thì anh ta thấy hai người đàn ông đang đánh nhau và một cậu bé đứng  sát cạnh họ, đang khóc, “Bố ơi, Bố ơi!”

Viên cảnh sát tách hai người đàn ông ra và, quay sang cậu bé, hỏi, “Người nào là bố cháu, cậu bé?”

“Cháu không biết,” cậu bé nói, vừa lấy tay chùi nước mắt, “Đó là điều họ đánh nhau.”

 

Bạn có thực sự biết Thượng đế là ai không? Bạn thậm chí không biết bạn là ai – làm sao bạn có thể biết Thượng đế là ai? Bạn thậm chí không trở nên quen biết với thực tại gần nhất – cái đang đập trong tim bạn, cái đang thở trong bạn, cái đang sống động trong bạn – và bạn nghĩ trở nên quen thuộc với tính toàn bộ của sự tồn tại sao? Cái vô hạn, cái bao la, cái vĩnh hằng? Và bạn thậm chí đã không có khả năng có hương vị của bản thể riêng của bạn. Bạn thậm chí đã không nếm một giọt nước biển, và bạn muốn nếm toàn thể biển sao?

Và bạn không bao giờ đi tới biển! Bạn đi tới kinh sách. Bạn không bao giờ đi tới biển – bạn đi tới các tu sĩ. Và thế rồi bạn tạo ra niềm tin, và niềm tin bắt nguồn từ sợ của bạn, không từ yêu của bạn, không từ việc biết của bạn, không từ trải nghiệm của bạn – nó đơn giản bắt nguồn từ sợ của bạn. Bạn tin vì một mình bạn cảm thấy sợ; vì bạn ấu trĩ, bạn muốn có ai đó để dựa vào, để bám vào. Bạn cần hình ảnh người bố! để cho bạn bao giờ cũng có thể nhìn lên ông ấy, để cho bạn bao giờ cũng có thể đổ trách nhiệm, để cho bạn bao giờ cũng có thể kêu và khóc và vẫn còn bất lực.

Chính từ sợ của bạn mà bạn đã tạo ra Thượng đế. Và một Thượng đế được tạo ra từ sợ là ốm yếu, nó là bệnh. Nó sẽ không mang tới cho bạn mạnh khoẻ: nó sẽ làm cho bạn ngày càng bệnh hơn.

Cái gọi là người tôn giáo gần như là bệnh; anh ta loạn thần kinh. Đi tới các tu viện, nhìn quanh với mắt mở, và bạn sẽ đơn giản ngạc nhiên rằng nhân danh tôn giáo cả nghìn lẻ một thứ bệnh đang được thực hành. Mọi người không trở nên mạnh khoẻ và toàn thể – họ trở nên ngày càng bất lực hơn, ngày càng kinh hoàng hơn, ngày cành lập dị hơn. Tất nhiên, chứng loạn thần kinh của họ là tới mức nó được kính trọng.

Freud là đúng khi ông ấy nói rằng tôn giáo là chứng loạn thần kinh tập thể. Tôi đồng ý với ông ấy. Cái gọi là tôn giáo là loạn thần kinh. Nếu một người hành xử theo cách đó, bạn sẽ nghĩ anh ta điên; nhưng nếu một đám đông lớn hành xử theo cùng cách, bạn nghĩ đó là tính tôn giáo.

Mới đêm hôm nọ tôi đã nói về một người đi theo Mahatma Gandhi; tên ông ta là Giáo sư Bhansali. Ông ấy lấy lời nguyện là im lặng. Bây giờ, im lặng thực không bao giờ nảy sinh từ lời nguyện. Chính hiện tượng lời nguyện này chỉ ra rằng im lặng này bị áp đặt, giả, rởm, bạo hành; bằng không, không cần lấy lời nguyện. Nếu bạn đã hiểu cái đẹp của im lặng, bạn sẽ đơn giản im lặng! Tại sao lấy lời nguyện? Tại sao quyết định cho ngày mai? Tại sao nói rằng “Từ giờ trở đi tôi sẽ vẫn còn im lặng và tôi sẽ không nói một lời “? Bạn lấy lời nguyện chống lại ai?

Nếu bạn đã biết cái đẹp của im lặng, nếu bạn đã trải nghiệm niềm vui của nó, nếu bạn đã tan chảy trong nó, nếu bạn đã tuôn chảy trong nó – vấn đề là gì? Bạn không bao giờ lấy lời nguyện rằng “Tôi sẽ yêu cả đời tôi – tôi lấy lời nguyện này.” Bạn không lấy lời nguyện rằng “Tôi sẽ ăn cả đời tôi.” Bạn không lấy lời nguyện rằng “Tôi sẽ liên tục thở cho tới khi tôi chết.” Điều này sẽ có vẻ ngu! Bạn tận hưởng yêu – không cần lấy lời nguyện. Mọi người lấy lời nguyện về vô dục, không về yêu – tại sao? Vì vô dục là phi tự nhiên, bị áp đặt. Khi vô dục cũng là tự nhiên, tự phát, không lời nguyện nào được lấy.

Bây giờ người này, Giáo sư Bhansali – tôi biết ông này – đã lấy lời nguyện về im lặng, đã đi lên Himalaya. Trong hai năm, ba năm, ông ấy vẫn còn trong im lặng. Nó đã là cuộc vật lộn gay gắt; nó đã là cuộc chiến liên tục với bản thân ông ấy – nó đã là kìm nén, kìm nén lớn. Ông ấy phải đã bị chia chẻ: người đang cố áp đặt lời nguyện và người, người tự nhiên, người muốn có tán gẫu chút ít với mọi người, hay nói chuyện, hay kể chuyện, giao tiếp.

Một đêm ông ấy đang ngủ và ai đó trong tối dẫm lên ông ấy. Ông ấy đã ngủ say. Trong giấc ngủ ông ấy không thể nhớ được lời nguyện của mình. Ông ấy hét lên, “Ông là ai? Ông mù hay cái gì? Ông không thể thấy tôi đang ngủ ở đây sao?” Thế rồi ông ấy sực nhớ ra rằng ông ấy đã phá vỡ lời nguyện của mình. Một cách tự nhiên, ông ấy cảm thấy rất mặc cảm; mặc cảm lớn đã nảy sinh trong ông ấy. Ông ấy đã lấy lời nguyện và ông ấy đã phá lời nguyện! Và ông ấy thực sự là người tự bạo – bằng không, sao người ta phải lấy lời nguyện là im lặng?

Nói, giao tiếp với mọi người là niềm vui thế! Tại sao người ta phải trở nên bị đóng lại trong con người của mình? Đây là không lành mạnh. Nhưng giờ ông ấy bị mặc cảm – để trừng phạt bản thân mình ông ấy bắt đầu ăn phân bò! Nhưng điều đó là không đủ. Để trừng phạt bản thân mình, ông ấy khâu môi mình lại bằng dây đồng. Ngay cả điều đó cũng không đủ – điên rồ không biết tới giới hạn. Ông ấy nhảy vào bụi xương rồng và lăn trần trụi, cả nghìn gai trong thân ông ấy, và ông ấy sẽ không cho bất kì ai được phép rút chúng ra. Có vết thương và vết thương trên khắp thân thể.

Nhưng vì ông ấy rất nổi tiếng – ông ấy đã trở thành một mahatma. Mọi người bắt đầu tới ông ấy, tôn thờ ông ấy. Giờ bạn sẽ gọi người này là cái gì? Bạn sẽ gọi ông ấy là mahatma không? Nếu bạn có bất kì ý thức nào còn lại trong bạn, bạn sẽ gọi ông ấy là bệnh hoạn. Ông ấy cần điều trị tâm thần, có thể sốc điện; ông ấy cần phân tâm. Nhưng ông ấy đã là đệ tử nổi tiếng của Mahatma Gandhi – chỉ sau Mahatma Gandhi.

Điều này đã xảy ra suốt nhiều thời đại. Đã từng có các thánh nhân Ki tô giáo tự đánh bản thân họ mọi sáng, làm bị thương thân thể họ; và mọi người sẽ tới tôn thờ họ và tới xem ai làm bản thân mình bị thương nhiều hơn. Và người đã làm bản thân mình bị thương nhiều hơn người khác, tất nhiên, là thánh nhân lớn hơn.

Bây giờ, những người đã làm bản thân họ bị thương, đang giết dần bản thân họ, họ là bệnh hoạn; và những người thường tới xem họ, họ cũng bệnh hoạn. Các thánh nhân đều đã là người tự bạo và những người xem và người tôn thờ là những người bạo hành – họ cả hai ở trong trạng thái ốm tinh vi.

Đã có những thánh nhân cắt bộ phận sinh dục của họ. Đã có những thánh nhân đàn bà cắt vú của họ. Bạn sẽ gọi những người này là cái gì? Nhưng họ sống theo niềm tin của họ – họ là những người tin!

Người phải gạt bỏ mọi loại tính tôn giáo ngu xuẩn này. Người phải gạt bỏ mọi cái vô nghĩa này mà đã kéo dài suốt nhiều thời đại. Chính vì điều vô nghĩa này mà tôn giáo đã không trở thành một phần của sự sống của mọi người.

Không, tôn giáo không cần dựa trên niềm tin. Tôn giáo phải được dựa trên trải nghiệm – không dựa trên sợ mà dựa trên yêu; không dựa trên phủ định sự sống mà dựa trên khẳng định sự sống. Tôn giáo phải không là niềm tin – nó phải là việc biết, trải nghiệm. Đó là lí do tại sao tôi nói ‘tin’ là lời bẩn ở đây. ‘Biết’, ‘yêu’, ‘hiện hữu’ – đây là những lời thực.

Và, tin cản trở họ: bạn không thể biết liệu bạn có tin không, bạn không thể yêu nếu bạn tin, bạn không thể thấy nếu bạn tin. Và nhớ: tôi không nói rằng bạn phải không tin, vì không tin lại là tin. Người vô thần và người hữu thần là không khác nhau – họ ở trong cùng thuyền, họ là các bạn đồng hành. Người hữu thần tin có Thượng đế, người vô thần tin không có Thượng đế – nhưng cả hai đều tin. Niềm tin của họ là đối kháng, nhưng khi có liên quan tới tin, cả hai là người tin. Không có mấy khác biệt.

Điều tôi đang nói là: cả tin và không tin đều không được cần tới – vì bạn không biết, cho nên làm sao bạn có thể tin được? và bạn không biết, cho nên làm sao bạn có thể không tin? Khi tin và không tin cả hai bị bỏ đi, có im lặng. Khi tin và không tin cả hai đã biến mất, bạn là mở cho chân lí; thế thì bạn không có bất kì định kiến nào, tâm trí của bạn không còn phóng chiếu. Thế thì bạn trở thành có tính cảm nhận.

 

Không tin mà cũng không không tin. Chỉ có tính quan sát, cảm nhận, mở! – và bạn sẽ biết.

Và bạn gọi việc biết đó là cái gì thì không thành vấn đề – dù bạn gọi nó là Thượng đế, hay bạn gọi nó là chứng ngộ, hay bạn gọi nó là niết bàn, không thành vấn đề! Những lời này chỉ là lời. Bất kì lời nào cũng được: XYZ cũng được. Nhưng đầu tiên bạn phải gạt bỏ tin và không tin.

Gạt bỏ tin và không tin, bạn gạt bỏ tâm trí. Và chỉ trạng thái vô trí mới đi tới biết. Trạng thái vô trí là phúc lạc….

 

Từ “Bước không chân, bay không cánh và nghĩ không tâm trí”, Ch.2 Đầu tiên nếm con người riêng của bạn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Notice: ob_end_flush(): failed to send buffer of zlib output compression (0) in /home/nhoshn0t/public_html/wp-includes/functions.php on line 5581