Osho ơi, trí huệ thực là gì?
Prem Samadhi,
Trí huệ không thể là thực hay không thực. Trí huệ đơn giản là trí huệ. Nó là chân lí. Không có khả năng nào đã bao giờ có trí huệ không thực. Mọi tri thức là không thực: mọi trí huệ là thực. Tri thức được vay mượn, do đó nó là không thực. Nó là của bạn, đó là lí do tại sao nó là không thực. Nó có thể đã là thực cho người đã truyền nó cho bạn.
Phật nói với đệ tử của ông ấy là đang nói trí huệ, nhưng khoảnh khắc nó đạt tới đệ tử nó trở thành tri thức. Trí huệ rơi khỏi chiều cao của nó tới mức của người nghe và trở thành tri thức.
Do đó chư phật bao giờ cũng rất nhận biết rằng họ truyền đạt cái gì đó về sự hiện diện của họ, cái gì đó của im lặng của họ, cái gì đó của niềm vui của họ, thay vì truyền đạt trí huệ của họ. Cho dù họ phải nói, họ nói chỉ để thuyết phục bạn là im lặng. Cho dù họ dùng lời, những lời đó được dùng để tạo nên trạng thái ý thức vô lời trong bạn.
Cho nên điều đầu tiên, Prem Samadhi này: trí huệ như vậy là chân lí, nó không thể không thực được. Cũng như sáng là sáng và không thể là tối, cũng như sống là sống và không thể là chết, cũng như logic là yêu và không thể là ghét. Nếu nó là ghét, nó không là yêu.
Trí huệ về bản chất là thực vì nó là kinh nghiệm có tính tồn tại. Nó không phải là cái gì đó được biết từ người khác, nó không phải là cái gì đó được thu thập từ kinh; nó là cái gì đó lớn lên trong lòng bạn. Nó là sự trưởng thành, không phải là việc tích luỹ. Nó là kinh nghiệm, không là tri thức.
Tri thức làm cho bạn thành thông thái: trí huệ làm bạn thành hồn nhiên. Tri thức rất đáp ứng cho bản ngã, rất làm mạnh cho bản ngã. Bản ngã được nuôi dưỡng trên tri thức; nó là thuốc bổ cho bản ngã. Nhưng trí huệ xảy ra chỉ khi bản ngã đã biến mất; trí huệ chỉ xuất hiện trên cái chết của bản ngã. Cái chết của bản ngã là việc sinh của trí huệ.
Tâm trí quan tâm tới tri thức chứ không quan tâm tới trí huệ, vì với trí huệ bạn sẽ phải tạo ra một không gian có tên là vô trí. Và, một cách tự nhiên, tâm trí sợ việc bạn trở nên quan tâm tới trí huệ, vì tâm trí không muốn tự tử.
Tính sannyas là tự tử của tâm trí, thiền cũng vậy, trí huệ cũng vậy. Đây là những cái tên khác nhau cho cùng một hiện tượng, các mặt khác nhau của cùng viên kim cương.
Tri thức phụ thuộc vào lời. Bạn có thể dễ dàng trở nên am tường bằng việc ngồi trong thư viện, nhưng bạn không thể trở nên trí huệ theo cách đó. Để trở nên trí huệ bạn sẽ phải ở trong giao cảm với người trí huệ. Với tri thức mọi điều được cần từ bạn là ở chỗ bạn phải là học sinh, ở chỗ bạn phải đầy các câu hỏi, truy vấn; bạn phải có khả năng học từ kinh, sách vở, thầy giáo, đại học, thư viện. Trí nhớ của bạn trở nên ngày càng giầu, máy tính sinh học của bạn trở nên đầy thông tin, nhưng trí huệ không được đạt tới theo cách đó.
Trí huệ ít nhiều là chuyện tình với thầy. Người ta phải là đệ tử, không chỉ là học sinh. Học sinh giữ khoảng cách với thầy. Với anh ta thầy chỉ là thầy giáo; anh ta quan tâm tới thầy vì giáo huấn của thầy. Thực sự anh ta quan tâm tới giáo huấn, không quan tâm tới thầy. Đệ tử không quan tâm tới giáo huấn vì một điều anh ta đã đi tới hiểu: rằng tri thức có thể được dạy nhưng trí huệ chỉ có thể được bắt lấy.
Trí huệ có tính lây nhiễm. Bạn phải sẵn có cho thầy, cho bản thể của thầy. Thầy đã trở nên bừng cháy, chiếc nến trong lòng bạn vẫn còn chưa được thắp sáng; nếu bạn trở nên sẵn có cho lửa của thầy, bạn cũng có thể trở thành chiếc nến đã được thắp sáng, bạn cũng có thể trở nên bắt lửa.
Bắt lửa với im lặng, với niềm vui, là trí huệ. Điều đó không xảy ra qua logic mà qua yêu. Điều đó không xảy ra qua lời nhưng qua trạng thái vô lời có tên là thiền hay trạng thái vô trí, tỏ ngộ, chứng ngộ.
Cảnh giác với việc học, bằng không bạn có thể không bao giờ trở thành trí huệ. Là am tường là rất dễ; điều đó không rủi ro, nó là an toàn. Đi vào chiều trí huệ là rủi ro; đó là đi vào trong cái không biết, vào trong cái không được làm bản đồ. Dũng cảm lớn được cần tới, bạo dạn được cần.
Và khi bạn đã nếm trải cái gì đó của trí huệ, tri thức có vẻ ngu xuẩn thế, ngu xuẩn hoàn toàn thế. Nhưng nếu bạn đã không nếm trải bất kì cái gì của trí huệ, tri thức dường như là có giá trị mênh mông.
Zalewski kiếm được việc làm người giao hàng trong cửa hàng thú cưng. Một hôm anh ta được bảo đi giao một con thỏ cưng cho bà Caldwell, Đường 2 – Lô 4.
“Tốt hơn cả ông viết nó ra phòng trường hợp tôi quên mất nó,” anh ta nói.
Thả tờ địa chỉ vào trong túi, Zalewski bắt đầu công việc của mình. Cứ vào phút anh ta lại liếc nhìn vào tờ địa chỉ và nói, “Mình biết nơi mình đi: bà Caldwell, Đường 2 – Lô 4.”
Mọi thứ diễn ra suôn sẻ cho tới khi anh ta đâm vào một hố khổng lồ trên đường. Chiếc xe tải lao xuống mương và con thỏ bắt đầu chạy thục mạng qua cánh đồng trống.
Zalewski đứng đó cười ha hả. Một khách bộ hành dừng lại và hỏi, “Cái gì buồn cười thế?”
“Ông có thấy con thỏ điên chạy ngang qua cánh đồng kia không?” người Polack nói. “Nó không biết nó đang đi đâu vì tôi đã để địa chỉ trong túi của tôi.”
Đó là trạng thái của người hiểu biết: anh ta có địa chỉ trong túi mình. Anh ta biết Thượng đế ở đâu, anh ta biết cõi trời ở đâu, anh ta biết địa ngục ở đâu. Anh ta biết mọi thứ – mọi thứ ở trong túi của anh ta. Anh ta mang kinh, và anh ta tin vào chữ và anh ta bỏ lỡ thần của nó. Anh ta liên tục tin vào lời, anh ta tin quá nhiều vào lời. Và lời là hữu dụng nếu bạn có thể hiểu linh hồn được ẩn đằng sau chúng, cái không hiển nhiên thế, không thấy được thế.
Trong tay của người có tính thiền, lời có thể trở nên có giá trị vô hạn, vì chúng có thể là những chỉ báo. Nhưng trong tay của người phi thiền, lời là nguy hiểm, rất nguy hiểm, vì linh hồn bị bỏ lỡ hoàn toàn và người ta bắt đầu tin vào lời hổng hoác, trống rỗng, và người ta bắt đầu theo lời.
Đó là điều đang xảy ra cho người Ki tô giáo, cho người Hindu, cho người Mô ha mét giáo, cho người Jaina, cho Phật tử – tất cả đều là những người tin vào lời. Ai đó tin vào Koran và ai đó tin vào Gita và ai đó tin vào Kinh Thánh, và tất cả họ bỏ lỡ linh hồn. Vì để biết linh hồn của Kinh Thánh, bạn sẽ phải tới những không gian bên trong nào đó nơi bạn trở nên quen thuộc với Moses, với Jesus…. Chừng nào bạn chưa có tiếp xúc bên trong trực tiếp với Moses và Jesus bạn sẽ không hiểu Kinh Thánh.
Nhưng theo lời bạn có thể có vẻ rất quan trọng – cho những người giống hệt bạn, không khác theo bất kì cách nào. Họ cũng tin vào lời, bạn cũng tin vào lời; cả hai sống trong cùng một loại dốt. Điều này không phải là trí huệ.
Trí huệ là hiện tượng bên trong. Nó là khám phá về linh hồn của mọi chư phật. Và không cần đi vào lịch sử của chư phật. Bạn chỉ phải đi vào bên trong bản thân bạn, vì bạn chứa toàn thể quá khứ của sự tồn tại, quá khứ vô hạn, và bạn cũng chứa tương lai vô hạn.
Một người đưa thư đi chuyển thư trong dịp Nô en. Tại một nhà cánh cửa mở ra bởi một người đàn bà mặc bộ đồ mỏng tang.
“Ông có muốn vào không?” người đàn bà thì thầm.
“Có chứ,” người đưa thư bị giật mình.
Cô ấy đưa anh ta lên phòng ngủ và làm tình với anh ta. Khi họ kết thúc cô ấy ngồi dậy và đưa cho người đàn ông một đô la. “Sao lại là tờ đô la?” người đưa thư phân vân hỏi. “Thế này,” người đàn bà đáp, “khi tôi hỏi chồng tôi cần cho người đưa thư cái gì nhân dịp Nô en anh ấy đã nói ‘Cứ cho anh ta một đô la và đéo nó!'”
Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.3 Không hỏi, không đáp
