Nhân cách

Nhân cách thực là gì và quan hệ của nó với cái bản chất là gì?

 

Paul Maniloff,

Không có nhân cách. Nhân cách (personality) như nó vậy là giả. Từ ‘nhân cách’ phải được hiểu. Nó bắt nguồn từ ‘persona’; persona ngụ ý mặt nạ. Trong kịch Hi Lạp cổ đại các diễn viên thường đeo mặt nạ; những mặt nạ đó được gọi là persona – persona vì âm thanh tới từ đằng sau mặt nạ. ‘Sona’ ngụ ý âm thanh. Mặt nạ hiện ra bên ngoài cho khán giả và từ đằng sau mặt nạ này âm thanh vang tới. Từ đó từ ‘persona’ đã đưa tới từ ‘personality-nhân cách’.

Mọi nhân cách đều là giả. Nhân cách tốt, nhân cách xấu, nhân cách của tội nhân và nhân cách của thánh nhân – tất cả đều là giả. Bạn có thể đeo mặt nạ đẹp hay mặt nạ xấu, điều đó không tạo ra bất kì khác biệt nào.

Điều thực là bản chất của bạn. Nhưng câu hỏi này có liên quan. Nếu cái bản chất là cái thực, như tôi nói, thế thì Maniloff hỏi:

 

Người nguyên thuỷ sống trong trạng thái bản chất hệt như con vật. Họ là đẹp nhưng không chứng ngộ.

 

Điều đó là đúng – họ không thể được chứng ngộ. Với họ để trở nên chứng ngộ, trước hết họ sẽ phải tạo ra nhân cách. Chứng ngộ là việc bỏ nhân cách; họ không có bất kì nhân cách nào để bỏ. Bạn sẽ cảm thấy hơi chút phân vân: Sao người ta không thể trở nên chứng ngộ khi người ta không có nhân cách nào?

Nhân cách cũng là phần cần thiết của trưởng thành. Điều đó giống như nếu bạn bắt cá trong biển và bạn ném nó lên bờ biển; con cá nhảy trở lại trong biển. Bây giờ lần đầu tiên nó sẽ biết rằng nó bao giờ cũng sống trong biển; lần đầu tiên nó sẽ biết rằng “Biển là cuộc sống của mình.” Mãi cho tới giờ, trước khi nó bị bắt và bị ném lên bờ biển, nó có thể đã chưa từng nghĩ về biển chút nào; nó có thể đã hoàn toàn quên lãng về biển. Để biết cái gì đó, trước hết bạn phải làm mất nó.

Để nhận biết về thiên đường, trước hết bạn phải đánh mất nó. Chừng nào nó chưa bị mất đi được thu lại, bạn sẽ không hiểu cái đẹp của nó.

Adam và Eve phải làm mất Vườn Eden; đó là một phần của trưởng thành tự nhiên. Duy nhất Adam bỏ Vườn đẹp của Thượng đế mới có thể trở thành Christ một ngày nào đó – anh ta không thể quay lại. Adam bỏ Eden cũng giống như cá bị bắt và bị ném lên bãi biển và Jesus là cá nhảy trở lại trong biển.

Người nguyên thuỷ không thể trở nên được chứng ngộ. Họ là người đẹp, tự phát, tự nhiên, nhưng hoàn toàn vô nhận biết về điều họ là gì; họ không có bất kì nhận biết nào. Họ sống một cách vui vẻ nhưng niềm vui của họ là vô ý thức. Đầu tiên họ phải làm mất điều đó. Họ phải trở nên văn minh, có giáo dục, hiểu biết; họ phải trở nên văn hoá, văn minh, tôn giáo. Họ phải đánh mất mọi sự tự phát, họ phải quên mọi điều về bản chất của họ, và thế rồi một ngày nào đó họ bắt đầu nhớ nó. Điều đó nhất định xảy ra.

Điều đó đang xảy ra trên khắp thế giới, và nó đang xảy ra theo qui mô lớn thế vì đây là lần đầu tiên nhân loại đã thực sự trở nên được văn minh.

Một nước càng văn minh, việc cảm thấy vô nghĩa càng nhiều hơn. Nước lạc hậu vẫn không có việc cảm đó, họ không thể có được. Để có việc cảm đó về trống rỗng bên trong, vô nghĩa, ngớ ngẩn, người ta phải trở nên rất văn minh.

Do đó tôi hoàn toàn ủng hộ khoa học, vì nó giúp cho cá bị ném lên bờ biển. Và một khi ở trên bãi biển nóng, trong cát nóng, cá bắt đầu cảm thấy khát. Nó chưa bao giờ cảm thấy khát trước đây. Lần đầu tiên nó nhớ về đại dương xung quanh, cái mát mẻ, nước cho sự sống. Nó đang chết.

Đó là tình huống của người văn minh, người có giáo dục: người đó đang chết. Việc truy hỏi lớn được sinh ra. Người ta muốn biết cái gì nên được làm, làm sao người ta có thể đi vào trong đại dương sự sống lần nữa.

Ở các nước lạc hậu, chẳng hạn ở Ấn Độ, không có việc cảm về vô nghĩa như vậy. Cho dù vài nhà trí thức Ấn Độ viết về nó, việc viết của họ không có chiều sâu vì nó không tương ứng với tình huống của tâm trí Ấn Độ. Vài người trí thức Ấn Độ viết về vô nghĩa, ngớ ngẩn, gần như theo cùng cách của Soren Kierkegaard, Jean-Paul Sartre, Jaspers, Heidegger…. Họ đã đọc về những người này hay họ có thể đã tới thăm phương Tây, và họ bắt đầu nói về vô nghĩa, buồn nôn, ngớ ngẩn, nhưng điều đó có vẻ rởm.

Tôi đã nói chuyện với những người trí thức Ấn Độ – họ có vẻ rất rởm vì đó không phải là việc cảm riêng của họ; điều đó được vay mượn. Chính Soren Kierkegaard nói qua họ, chính Friedrich Nietzsche nói qua họ; đó không phải là tiếng nói riêng của họ. Họ không thực sự nhận biết về điều Soren Kierkegaard nói; họ đã không chịu cùng phiền não. Việc cảm này là xa lạ, ngoại lai; họ đã học nó như vẹt. Họ nói về nó, nhưng toàn thể cuộc sống của họ nói và biểu lộ cái gì đó khác. Điều họ nói và điều cuộc sống của họ hiện ra là hoàn toàn đối lập nhau.

Rất rất hiếm khi người trí thức Ấn Độ nào tự tử – tôi đã không nghe nói về điều đó – nhưng nhiều người trí thức phương Tây đã tự tử. Rất hiếm khi bắt gặp một người trí thức Ấn Độ phát điên; điều đó lại là hiện tượng rất thông thường ở phương Tây, nhiều người trí thức đã phát điên. Người trí thức thực gần như không tránh khỏi phát điên; đó là kinh nghiệm sống của họ.

Nền văn minh ở khắp xung quanh, nhân cách quá phát triển, đã trở thành việc cầm tù. Họ đang bị nó giết chết. Chính trọng lượng của văn minh là quá lớn và không thể chịu nổi. Họ cảm thấy ngột ngạt, họ không thể thở được. Ngay cả tự tử dường như là việc giải thoát, hay nếu họ không thể tự tử thế thì điên dường như là lối thoát. Ít nhất bằng việc trở nên điên người ta quên đi tất cả về văn minh, người ta quên đi tất cả về cái vô nghĩa đang diễn ra nhân danh văn minh. Điên là lối thoát khỏi văn minh.

Bạn có biết rằng người nguyên thuỷ không phát điên không? Điên là đặc quyền duy nhất của người đã văn minh. Người nguyên thuỷ không tự tử; lần nữa tự tử là đặc quyền của người văn minh.

Nhưng cảm thấy rằng cuộc sống là hoàn toàn vô nghĩa là ở bước quyết định: hoặc bạn chọn tự tử hoặc bạn chọn tính sannyas; hoặc bạn chọn điên hoặc bạn chọn thiền. Đó là điểm ngoặt vĩ đại!

Maniloff, mọi nhân cách là giả. Có cái bản chất bên trong mà không là giả, cái bạn mang cùng việc sinh của bạn, cái bao giờ cũng ở đó rồi.

Ai đó hỏi Jesus: “Thầy có biết gì về Abraham không?” Và Jesus nói, “Trước khi Abraham đã bao giờ hiện hữu, ta hiện hữu.”

Bây giờ phát biểu này ngớ ngẩn làm sao, nhưng cũng có ý nghĩa vô cùng. Abraham và Jesus – có kẽ hở lớn giữa họ; Abraham tới trước Jesus gần ba nghìn năm. Và Jesus nói, “Trước khi Abraham đã bao giờ hiện hữu, ta hiện hữu.” Ông ấy đang nói về cái bản chất. Ông ấy không nói về Jesus, ông ấy đang nói về Christ. Ông ấy đang nói về cái vĩnh hằng. Ông ấy không nói về người cụ thể, ông ấy đang nói về vũ trụ.

Thiền nhân nói rằng chừng nào bạn chưa đi tới biết mặt nguyên bản của bạn mà bạn có trước khi bố bạn được sinh ra, bạn sẽ không trở nên chứng ngộ. Mặt nguyên bản này là gì? Ngay cả trước khi bố bạn được sinh ra bạn đã có nó, và bạn sẽ lại có nó khi bạn đã chết đi và thân thể bạn đã bị thiêu và không cái gì còn lại ngoại trừ tro – thế thì bạn sẽ lại có nó.

Mặt nguyên bản này là gì? Cái bản chất – gọi nó là hồn, linh hồn, cái ngã. Đây là các từ mang ý nghĩa về cùng một thứ. Bạn được sinh ra như cái bản chất, nhưng nếu bạn bị bỏ lại như cái bản chất mà không được xã hội tạo ra nhân cách cho bạn, bạn sẽ vẫn còn giống như con vật. Điều đó đã xảy ra cho một số người.

Mới sáu tháng trước, lại một đứa trẻ được tìm thấy ở đâu đó miền bắc Ấn Độ gần Himalayas, đứa trẻ mười một tuổi đã được sói nuôi lớn, một đứa trẻ sói – đứa trẻ người được nuôi dưỡng bởi sói. Tất nhiên sói chỉ có thể cho nhân cách của sói; cho nên đứa trẻ này đã là người, cái bản chất có đó, nhưng nó có nhân cách của sói.

Nhiều lần điều đó đã xảy ra. Sói dường như có năng lực nuôi dưỡng đứa trẻ người; chúng dường như có tình yêu nào đó, từ bi, với đứa trẻ người. Nhưng những đứa trẻ này không chứng ngộ. Chúng không bị bất kì biến chất nào mà xã hội người nhất định trao cho; con người của chúng không bị ô nhiễm, chúng là bản chất thuần. Chúng giống như cá trong đại dương – chúng không biết chúng là ai. Và rất khó cho chúng nhân cách người một khi chúng đã được nuôi dưỡng bởi con vật; đó là việc quá khó không làm được.

Gần như mọi đứa trẻ này đã chết đi trong nỗ lực đó. Chúng không thể học được cách thức con người, giờ thì quá trễ rồi. Khuôn của chúng đã được định hình; chúng đã trở thành các nhân cách cố định. Chúng đã học cách là sói. Chúng chạy như sói trên bốn chi và chúng mạnh như sói. Bạn không thể đánh nhau với đứa trẻ sói; nó sẽ giết bạn, nó sẽ ăn sống bạn. Chúng là loài ăn thịt người! Chúng không biết bất kì đạo đức nào, chúng không biết bất kì tôn giáo nào. Chúng không là người Hindu, người Ki tô giáo, người Mô ha mét giáo. Chúng không bận tâm về Thượng đế – chúng không bao giờ nghe nói về ngài. Mọi điều chúng biết là cuộc sống của sói.

Nếu nhân cách người là rào chắn, nó là rào chắn chỉ nếu bạn bám vào nó. Nó phải bị đi qua: nó là chiếc thang, nó là chiếc cầu. Người ta phải không làm nhà trên cầu, đúng, nhưng người ta phải đi qua cầu.

Nhân cách người có tính bộ phận. Trong một xã hội tốt hơn chúng ta sẽ cho trẻ em các nhân cách những cũng cho cả năng lực gạt bỏ nhân cách. Đó là điều đang thiếu ngay bây giờ: chúng ta cho chúng các nhân cách, nhân cách quá chặt, tới mức chúng trở nên bị bao bọc kín, bị cầm tù, và chúng ta không bao giờ cho chúng cách gạt bỏ nhân cách. Điều đó giống như cho đứa trẻ quần áo thép và không cho chúng bất kì ý tưởng nào về cách mở khoá, cách ném quần áo đi, một ngày nào đó khi chúng trở nên lớn hơn.

Điều chúng ta đang làm với con người đích xác là điều được làm ở Trung Quốc cổ đại với bàn chân đàn bà. Từ chính thời rất thơ ấu các bé gái đã được cho đi giầy sắt để cho bàn chân của chúng không bao giờ phát triển, chúng vẫn còn rất nhỏ. Bàn chân nhỏ được yêu mến lắm, chúng được ca ngợi rất nhiều. Chỉ các gia đình quí tộc mới có thể đảng đương việc có bàn chân nhỏ, vì gần như không thể nào để người đàn bà này làm bất kì cái gì. Người đàn bà này thậm chí không thể bước đi đúng; bàn chân quá nhỏ và thân thể lại lớn. Bàn chân bị làm què đi; cô ấy phải bước đi có người hỗ trợ. Bây giờ người đàn bà đáng thương này không thể đảm đương được việc bước đi, bàn chân nhỏ thế đã lả biểu tượng của tầng lớp quí tộc.

Chúng ta có thể cười vào điều đó, nhưng chúng ta liên tục làm cùng điều này. Bây giờ ở phương Tây đàn bà đang bước đi trên những chiếc giầy ngớ ngẩn thế, gót giầy cao thế! Điều đó là được nếu bạn làm điều như vậy trong rạp xiếc, nhưng những gót giầy cao thế không dành cho việc bước đi. Nhưng chúng được đánh giá cao, vì khi đàn bà bước trên giầy đế rất cao, cô ấy trở nên hấp dẫn hơn về dục: mông cô ấy nổi bật hơn. Và vì bước đi là khó khăn, mông cô ấy chuyển động nhiều hơn là chúng chuyển động bình thường. Nhưng điều này được chấp nhận, thế thì nó là được. Các xã hội khác sẽ cười vào điều đó!

Trên khắp thế giới đàn bà đang dùng nịt vú và họ nghĩ rằng điều đó là rất thuận tiện và truyền thống. Các sannyasin của tôi không dùng nịt vú, và đó là một trong những chỉ trích lớn nhất chống lại họ từ người Hindu. Thực ra nịt vú làm cho đàn bà trông gợi cảm hơn; nó chỉ để cho cơ thể cô ấy hình dáng mà cô ấy không có. Nó là để giúp cô ấy làm cho vú có thể nhô ra và có thể có vẻ rất trẻ, không sệ xuống. Và những đàn bà Hindu này nghĩ họ rất có tính tôn giáo và chính thống. Họ đơn giản tự lừa bản thân mình chứ không ai khác – nịt vú là biểu tượng gợi cảm.

Cũng giống như nịt vú, có những xã hội ở châu Phi, vài xã hội nguyên thuỷ, dùng những thứ kì lạ. Môi được làm cho to hơn và dầy hơn. Từ chính thời thơ ấu những vật nặng được treo lên môi để cho chúng trở nên rất dầy, to. Đó là biểu tượng của người đàn bà rất gợi dục – môi dầy hơn và to hơn tất nhiên có thể cho cái hôn nồng cháy hơn!

Ở một số xã hội nguyên thuỷ đàn ông thậm chí thường đeo bao nào đó lên cơ quan sinh dục để làm cho chúng có vẻ lớn hơn, hệt như đàn bà dùng nịt vú. Bây giờ chúng ta cười những người ngu như vậy, nhưng đó là cùng câu chuyện. Thậm chí những người trẻ hơn trên khắp thế giới đang dùng quần rất chật – điều đó chỉ là để phô ra bộ phận sinh dục của họ. Nhưng một khi một thứ được chấp nhận, không ai để ý gì tới nó.

Văn minh không nên trở thành bao đóng chặt. Điều tuyệt đối cần thiết là bạn phải có nhân cách, nhưng bạn phải có nhân cách mà có thể đeo lên và tháo ra một cách dễ dàng, cũng giống như các vật dụng chùng lỏng, không làm bằng thép. Chỉ vải bông sẽ có tác dụng, để cho bạn có thể tháo và đeo chúng; bạn không cần liên tục đeo chúng.

Đó là điều tôi gọi là người của hiểu biết: người sống trong cái bản chất của mình, nhưng khi có liên quan tới xã hội người đó đi cùng nhân cách. Người đó dùng nhân cách; người đó là người chủ của con người riêng của mình.

Xã hội cần nhân cách nào đó. Nếu bạn mang cái bản chất của bạn vào xã hội, bạn sẽ tạo ra phiền phức cho bản thân bạn và cho người khác. Mọi người sẽ không hiểu cái bản chất của bạn; chân lí của bạn có thể là quá đắng với họ, chân lí của bạn có thể quá gây rối họ. Không cần đâu! Bạn không cần đi trần truồng trong xã hội; bạn có thể mặc quần áo.

Nhưng tôi đã nghe nói về một xơ thường tắm mà vẫn mặc quần áo. Khi các xơ khác dần nghe tin về điều đó họ hỏi, “Vô nghĩa làm sao! Sao xơ không thể cởi quần áo trong phòng tắm? Chẳng có ai nhìn cả.”

Xơ này nói, “Không, nhưng Kinh Thánh nói Thượng đế đang nhòm mọi nơi.” Thế là xơ này thậm chí không thể cởi quần áo trong nhà tắm vì Thượng đế đang nhòm – dường như Thượng đế là một Tom nhòm trộm! Và nếu Thượng đế có thể nhòm ngay cả đằng sau các cửa khoá, ông ấy không thể nhòm vào bên trong quần áo của bạn sao? Ông ấy có thể nhòm ở đó nữa đấy! Nếu tường không thể ngăn cản được ông ấy, chỉ áo quần của bạn có thể ngăn cản được ông ấy sao?

Người ta phải có khả năng ở trần truồng trong nhà riêng của mình, chơi với con cái của người ta; nhấp nháp trà vào sáng mùa hè trong vườn, trên bãi cỏ, người ta phải có khả năng ở trần truồng. Không cần trần truồng đi tới văn phòng – không cần thiết! Quần áo là hoàn toàn tốt; không cần phơi bản thân bạn cho từng và mọi người. Điều đó sẽ là theo xu hướng phô trương, điều đó sẽ là cực đoan khác. Một cực đoan là ở chỗ mọi người thậm chí không thể lên giường mà không mặc quần áo; cực đoan khác là ở chỗ có những sư Jaina digambara trần truồng ở chợ búa, hay sadhu Hindu trần truồng. Và điều kì lạ là: những người Jaina này và những người Hindu này, họ phản đối người của tôi vì người cùa tôi không mặc quần áo đúng.

Bây giờ, ở nước nóng như Ấn Độ những người tới từ phương Tây thấy thực sự khó mặc quá nhiều quần áo. Điều đó có vẻ ngớ ngẩn với người tìm kiếm phương Tây tới đây khi thấy người Ấn Độ thắt cà vạt và mặc áo bành tô. Điều đó có vẻ ngớ ngẩn thế! Điều đó là được ở phương Tây – trời quá lạnh và cà vạt có tính bảo vệ – nhưng ở Ấn Độ đó là nỗ lực tự tử. Ở phương Tây đi giầy và đi tất là được, nhưng ở Ấn Độ sao? Nhưng mọi người bắt chước! Họ đi giầy và tất cả ngày ở nước nóng như Ấn Độ. Y phục phương Tây ở Ấn Độ là không liên quan – quần bó và áo choàng và cà vạt và mũ – điều đó đơn giản làm cho bạn thành có vẻ lố bịch. Ấn Độ cần quần áo chùng rộng. Nhưng không cần đi tới cực đoan kia, rằng bạn bắt đầu trần truồng chạy, trần truồng đi xe đạp vào chợ búa. Điều đó sẽ tạo ra phiền phức không cần thiết cho bạn và người khác.

Nhưng điều kì lạ là ở chỗ mọi người bao giờ cũng tôn thờ các sadhu trần truồng và không bao giờ nêu ra bất kì vấn đề nào, với họ tôi lại đang tạo ra rắc rối. Với họ tôi có vẻ dường như là người nguy hiểm vì các sannyasin của tôi không mặc quần áo đúng.

Người ta phải tự nhiên, và bởi việc là tự nhiên tôi ngụ ý người ta phải có năng lực đeo lên nhân cách khi được cần, trong xã hội. Nó vận hành như chất bôi trơn, nó giúp đỡ, vì có hàng nghìn người. Chất bôi trơn được cần tới, bằng không mọi người sẽ thường xuyên trong xung đột, va chạm lẫn nhau. Chất bôi trơn giúp ích; chúng giữ cho cuộc sống của bạn trôi chảy.

Nhân cách là tốt khi bạn đang giao tiếp với người khác, nhưng nhân cách là rào chắn khi bạn bắt đầu giao tiếp với bản thân bạn. Nhân cách là tốt khi bạn đang quan hệ với con người; nhân cách là rào chắn khi bạn bắt đầu quan hệ với bản thân sự tồn tại, với Thượng đế.

Maniloff, với tôi chỉ có hai điều: cái bản chất và nhân cách. Nhân cách là tốt như phương tiện, cái bản chất là mục đích. Và nhân cách là không thực và hư ảo.

 

Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.3 Không hỏi, không đáp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Notice: ob_end_flush(): failed to send buffer of zlib output compression (0) in /home/nhoshn0t/public_html/wp-includes/functions.php on line 5581